Những khẳng định trước tấm huy chương vàng Sea Games 20

Hai trận thắng, một trận hòa được 7 điểm. Đội tuyển bóng đá Việt Nam (ĐTBĐVN) ung dung bước vào vòng bán kết của Sea Games 20 mà không cần chờ kết quả trận gặp Philipines chiều 8-8. So với “căn bệnh” khởi đầu thường khó khăn ở nhiều giải trước, đây là một bất ngờ nhưng cũng là tất yếu. Vẫn còn sớm, nhưng với bước tiến mới và những thể hiện mới qua 3 trận đấu vừa qua, vẫn cho phép chúng ta có quyền hy vọng tới một tấm huy chương vàng tại kỳ Sea Games cuối cùng của thế kỷ 20.
Cội nguồn của hy vọng, không gì khác, bắt nguồn từ những khẳng định qua 3 trận đấu mà mỗi cuộc so tài là một ghi nhận tiến bộ khác nhau về khả năng ghi bàn, ý chiến chiến thắng, về tổ chức chiến thuật khoa học.
Trận đầu, Việt Nam hạ Lào 9 – 0. Một trận đấu có tới 2 cầu thủ lập kỷ lục ghi bàn (Huỳnh Đức 4 bàn, Sỹ Hùng 3 bàn), trong đó có những pha ghi bàn mang đẳng cấp quốc tế như quả sút đập xà ngang đội vào lưới của Huỳnh Đức. Tỷ số đậm là kết quả tất yếu của một độ chênh khá lớn mà như HLV đội tuyển Lào Moumany Vangchay thẳng thắn thừa nhận sau trận đấu: “… Chúng tôi không thể bì được họ (ĐTBĐVN) về mặt thể lực, kỹ thuật, sức chịu đựng, tốc độ và kinh nghiệm…”.
Ngày 3 – 8, Việt Nam hạ Myanmar 2 – 0 trong một trận đấu quyết liệt giữa hai đối thủ trực tiếp trên con đường tranh chiếc vé vào bán kết. Sau 75 phút giằng co và kiên trì, ý chí chiến thắng của một lối đá hợp lý đã bừng sáng đè bẹp lối đá thô bạo và thiếu mạch lạc. Trận cầu tiếp tục đánh dấu phong độ cao của Huỳnh Đức, Việt Hoàng, ghi nhận ý chí đột phá của Hồng Sơn và sự trở lại “có duyên” của Phương Nam.
Trận hòa Thái Lan 0 – 0 chiều 5-6-1999 là kết quả của một đấu pháp khoa học được triển khai chặt chẽ trong suốt hơn 90 phút. Vắng Hồng Sơn và Việt Hoàng, hai trụ cột trong hàng tiền vệ, nhưng do liên tục di chuyển, bọc lót, nên chiến thuật “phòng ngự chặt, phản công nhanh” của ĐTBĐVN đã vô hiệu hóa mọi đợt tấn công của các danh thủ Thái Lan – một đội được đánh giá mạnh nhất khu vực. Hơn thế, với một thế trận ngang ngửa, nhiều lúc có phần lấn sân đã chứng minh cho một “độ dính” nhuần nhuyễn cao giữa các lớp cầu thủ trong đội tuyển ĐTBĐVN.
Ngoài hàng tiền đạo sắc sảo hiệu số bàn thắng – thua: 11 – 0, là lời khẳng định về khả năng phòng ngự của hàng thủ Việt Nam, một hàng thủ được giới chuyên môn đánh giá mạnh nhất nhì Đông Nam Á. Một pha tung người đẩy bóng trong trận gặp Myanmar, pha bắt gọn quả sút ở cự lý chưa đầy 3 mét trong trận gặp Thái Lan và hàng chục lần ra ôm gọn những đường bóng bổng của thủ môn Trần Minh Quang; một quả xả thân cắt bóng hợp lý trong chân tiền đạo Thái Lan của Đức Thắng; “tam giác thép” Đỗ Khải – Tiến Dũng – Như Thuần với những pha vô hiệu hóa các tiền đạo nổi tiếng của Thái Lan v.v… sẽ là những hình ảnh đẹp đọng mãi trong lòng người hâm mộ.
ĐTBĐVN đã khẳng định được những bước tiến mới về tinh thần thi đấu, ý thức chấp hành chiến thuật, tinh thần đoàn kết để làm nản ý chí chiến thắng mới. Điều đó cho phép hy vọng khi sự ổn định này được giữ vững thì những trận đấu trên con đường tiến vào chung kết sắp tới không phải là không giải quyết được.
Dự đoán vẫn chỉ là dự đoán. Duy có điều chắc chắn rằng, dù kết quả có thế nào ĐTBĐVN vẫn rất xứng đáng được nhận một tấm huy chương vàng của những người hâm mộ ghi nhận cho bước tiến mới của mình.
Đông Anh – Tuần Du lịch – 1999

Khởi sắc du lịch Hải Phòng

Trong sáu tháng đầu năm 1999, du lịch Hải Phòng được coi là có những bước tăng trưởng đáng khích lệ.
Trước hết, nói về lượng khách tới Hải Phòng, sáu tháng đầu năm nay đạt 415.000 lượt khách, tăng so với cùng kỳ năm ngoái là 53,13%. Trong đó, khách nội địa đạt 525.000, khách quốc tế đạt 65.000 (tăng 33,6%). Ngày lưu trú đạt xấp xỉ 2ngày/khách. Lượng khách tăng đã làm cho khả năng khai thác buồng phòng của khách sạn được cải thiện, bình quân đạt 60%. Trong đó có một số khách sạn đạt khá như khách sạn Hữu Nghị đạt 75%.
Có được những bước phát triển khả quan như vậy, bên cạnh sự cải thiện khá đồng bộ của hệ thống cơ sở hạ tầng thành phố cảng, nỗ lực tôn tạo cảnh quan của ngành văn hóa…Một nguyên nhân khác rất quan trọng là ngành du lịch Hải Phòng đã có những nổ lực khá toàn diện ở tất cả các khâu: kinh doanh lữ hành, vận chuyển khách, và kinh doanh khách sạn.
Trước hết nói về hoạt động kinh doanh lữ hành, các công ty du lịch ở Hải Phòng đã mở một loại các chi nhánh để khai thác và đưa đón khách, đặc biệt là ở các cửa khẩu biên giới phía Bắc để đưa đón khách Trung Quốc và khách quốc tế từ Trung Quốc vào. Trong sáu tháng đầu năm đã có 9 tàu du lịch quốc tế với gần 2000 lượt khách cập cảng Hải Phòng (tăng 41%).
Hoạt động vận chuyển khách cũng đã có những bước phát triển vượt bậc, trước hết đó là hệ thống đường bộ, sau khi đường 5 hoàn thành, du khách có thể từ Hà Nội tới Hải Phòng chỉ mất hai giờ. Hiện nay, toàn thành phố có 292 ô tô vận chuyển khách. Tàu hỏa Hà Nội – Hải Phòng đã tăng thêm một chuyến và rút ngắn thời gian chạy tàu xuống còn 1 giờ 45 phút. Ngoài ra thành phố còn có 22 tàu thủy được cấp giấy phép đủ điều kiện vận chuyển khách du lịch, trong đó có một đôi tàu chuyên chạy tuyến Hải Phòng – Cát Bà, du khách có thể từ Hải Phòng tới hòn đảo to và đẹp nhất vịnh Hạ Long này trong hai giờ. Chất lượng phương tiện vận chuyển cũng đang được nâng cao, trình độ giao tiếp, phục vụ trên phương tiện cũng đã được cải thiện trông thấy.
Hoạt động kinh doanh khách sạn ở Hải Phòng được coi là sôi động hơn cả. Sáu tháng đầu năm 1999, thành phố có thêm 9 khách sạn với hơn 300 phòng đã được đưa vào khai thác phục vụ khách du lịch. Đáng chú ý là quần thể khách sạn Harbourbview Hotel với 127 buồng đạt tiêu chuẩn quốc tế 4 sao, khách sạn Tray Hotel 76 phòng (3 sao) cũng vừa mới đưa vào hoạt động.
Để chuẩn bị cho năm 2000 “Việt Nam, điểm đến của thiên niên kỷ mới”, Hải Phòng đang nỗ lực cải thiện mọi điều kiện để đưa đón khách du lịch một cách tốt hơn. Ngành du lịch cũng đang cùng với Viện Nghiên cứu phát triển du lịch và UBND thị xã Đồ Sơn hoàn thành chi tiết phát triển khu du lịch Đồ Sơn, tham gia xây dựng quy hoạch tổng thể và chi tiết phát triển du lịch khu vực Hạ Long – Cát Bà – Đồ Sơn. Ngành cũng đang xây dựng dự án khả thi đầu tư nơi vui chơi giải trí, thể thao. Xây dựng tuyến đường thủy Đồ Sơn – Cát Bà – Hạ Long…Cùng với sự phục hồi của nền kinh tế của các nước khu vực, hy vọng rằng, năm tới, ngành du lịch Hải Phòng sẽ có một mùa du lịch bội thu.
Phan Thế Hải – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(79)1999

Bộ Y tế đang dự thảo một kế hoạch thu hút các bác sĩ giỏi từ Nhật Bản

Thái Lan: Cơ quan du lịch Thái Lan cộng tác với Bộ Thương mại, Bộ Y tế đang dự thảo một kế hoạch thu hút các bác sĩ giỏi từ Nhật Bản, Châu Âu, Mỹ sau khi về hưu tại nước họ, đến Thái Lan vừa nghỉ tuổi già vừa chăm lo bảo vệ sức khỏe tại các bệnh viện, khu du lịch nhằm tạo ra sự tín nhiệm cho các du khách nước ngoài đến Thái Lan. Theo Bộ Y tế, trong cuộc khủng hoảng kinh tế 2 năm qua, việc chăm sóc y tế phần nào bị ảnh hưởng.
Trung Quốc: Trung tuần tháng 9/99, Trung Quốc chính thức đưa vào hoạt động sân bay quốc tế Phố Đông tại Thượng Hải. Sân bay có đủ khả năng tiếp nhận các loại máy bay chở khách cỡ lớn nhất hiện nay trên thế giới như B 767, MD. 11, và các khu dịch vụ cho phép đưa đón 15 triệu khách/năm. Đây là sân bay quốc tế thứ hai ở Thượng Hải, sau sân bay Hồng Kiều.
Một báo cáo mới của Tổ chức Du lịch thế giới (WTO) cho biết năm 1998, Trung Quốc đứng thứ 6 thế giới về thu hút du khách bên ngoài. Nhưng đến năm 2020, Trung Quốc sẽ vượt lên đứng đầu thế giới, thay thế vị trí hiện nay của Pháp, với khoảng 130 triệu du khách đến thăm/năm.
Ma Cau: Chính quyền khu hành chính đặc biệt Ma Cau (Ma Cau SAR) đã phát hành loại hộ chiếu mới để sử dụng cho các công dân của mình sau khi lãnh địa này được trả về Trung Quốc cuối năm nay. Hộ chiếu mới được in bằng ba thứ tiếng: Trung Quốc, Anh và Bồ Đào Nha, có giá trị 10 năm đối với người lớn và 5 năm với trẻ em dưới 18 tuổi. Từ 20/12/1999, hộ chiếu mới chính thức được sử dụng, mặc dù đến đêm 31/12/1999, Ma Cau mới trở về với Trung Quốc.
Mỹ: Tập đoàn khách sạn Hilton của Mỹ nói đang thảo luận để mua tập đoàn khách sạn Promus, cũng của Mỹ với giá khoảng 2,4 tỷ USD với hy vọng giảm bớt chi phí, cắt giảm giá thuê phòng để thu hút du khách. Năm 1998, doanh thu của Hilton Hotel là 1,77 tỷ USD, của Promus là 1,1 tỷ USD. Cả hai tập đoàn này đều nằm trong Top Ten các khách sạn lớn ở Mỹ.
Hồng Kông: Trong 3 ngày 1, 2 và 3/9/1999, Hội chợ Du lịch quốc tế Châu Á 1999 đã diễn ra tại Trung tâm hội chợ triển lãm Hồng Kông với sự tham dự của 418 công ty du lịch, lữ hành đến từ 39 nước và khu vực trên thế giới. Hội chợ do Hội Du lịch Berlin và Liên hiệp Thông tin Châu Á phối hợp tổ chức với sự tài trợ của Tổ chức Du lịch thế giới (WTO), Hội Vận tải và Du lịch thế giới (WTTC), Hiệp hội Hàng không quốc tế (LATA), Hiệp hội khách sạn và Ăn uống quốc tế (IH&RA), Hội Thương nghiệp du lịch quốc tế (UTAA).
ASEAN: Diễn đàn Du lịch ASEAN 2000 với chủ đề “Hướng tới nền du lịch ASEAN không có ngăn cách” sẽ được tổ cức tại Bangkok vào đầu năm tới. Hội nghị sẽ có sự góp mặt của 10 nước thành viên ASEAN nhằm bàn về các biện pháp để phát huy tối đa tiềm năng du lịch của khu vực.
N.K – Tuần du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999

Đào tạo bồi dưỡng phải đi đôi với sử dụng

(Nhân đọc bài này “Cử nhân du lịch muốn có việc làm đúng nghề đào tạo” của tác giả Mai Khôi – báo TDL số 27, 5-8-1999)
Về lý thuyết mà nói thì ai cũng hiểu được. Đào tạo, bồi dưỡng phải đi đôi với sử dụng và qua thực tế sử dụng lại tiếp tục bồi dưỡng, đào tạo để luôn luôn có được đội ngũ cán bộ đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới, mỗi ngày đòi hỏi một cao hơn. Nhận thức là như vậy, nhưng để biến nhận thức thành việc làm cụ thể cũng còn khoảng cách. Độ dài, ngắn của khoảng cách này phụ thuộc rất nhiều vào sự tham mưu về tổ chức – đào tạo ở cơ quan, đơn vị và sự quyết định cuối cùng của lãnh đạo. Nếu cơ quan, đơn vị nào có bộ máy tham mưu tốt, hiểu biết, công tâm thì sẽ giúp cho lãnh đạo có được những quyết định đúng trong việc bố trí sử dụng cán bộ và ngược lại.
Trong thực tế, ngành Du lịch cũng có phần “thiệt thòi” so với các ngành khác, bởi dù đã 39 năm trưởng thành và phát triển, nhưng sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho ngành chủ yếu mới được chú trọng phát triển trong khoảng 10 năm trở lại đây (Tuy vậy, hiện nay vấn đề đào tạo cũng mới chỉ thu được một số kết quả bước đầu và vẫn đang còn nhiều vấn đề cơ bản phải giải quyết trong những năm tới). Do vậy, đội ngũ cán bộ hiện đang công tác trong ngành. Du lịch không phải chỉ tốt nghiệp từ các trường đào tạo chuyên ngành về du lịch mà hầu hết là từ các nguồn khác, trường khác. Phổ biến nhất hiện nay ngoài một số ít cán bộ được đào tạo đúng chuyên ngành du lịch từ nước ngoài về và một số trẻ được đào tạo ở các trường du lịch trong nước mới bổ sung gần đây, còn phần lớn đều tốt nghiệp ở các trường đại học Kinh tế quốc dân, đại học Thương mại, đại học Tài chính… và một số trường đại học kỹ thuật khác. Đặc điểm đó càng đòi hỏi việc lựa chọn, sắp xếp và sử dụng số cán bộ này phải thật khoa học và đúng người, đúng việc, nếu không chẳng những không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mà đôi khi còn gây ra những trở ngại không đáng có làm kìm hãm sự phát triển đi lên của ngành.
Để sử dụng đúng người, đúng việc điều quan trọng nhất là phải đánh giá đúng, khách quan, tài đức của các cán bộ, mà muốn đánh giá đúng thì người đánh giá phải vừa có tâm, vừa có tầm và nhất thiết không để những tư tưởng ích kỷ, cá nhân, độc đoán… xen vào trong quá trình nhận xét, đánh giá cán bộ. Muốn vậy, việc đánh giá phải làm đúng thẩm quyền, đúng quy trình, quy chế và phải đạt các yêu cầu: “Phải làm rõ ưu điểm, khuyết điểm, mặt mạnh, mặt yếu về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, năng lực và hiệu quả công tác, chiều hướng phát triển của cán bộ; phải đảm bảo tính khách quan, toàn diện, tính lịch sử – cụ thể, phải trên cơ sở thực hiện phê bình và tự phê bình; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, thảo luận dân chủ, kết luận theo đa số và công khai đối với cán bộ được đánh giá”.
Nhân đây cũng nên nhắc lại câu chuyện của cụ Tô Hiến Thành đề xuất ý kiến với vua Lý về việc chọn người: “Nếu chọn người chăm sóc, phục vụ nâng khăn, sửa túi thì chọn Vũ Tá Đường, còn nếu chọn người giúp nước thì chọn Trần Trung Tá”. Chuyện xưa đã từ lâu rồi mà không cũ chút nào, nó vẫn còn nguyên giá trị để cho chúng học tập và noi theo. Mong rằng ngành Du lịch của chúng ta chọn được nhiều cán bộ như Trần Trung Tá của cụ Tô Hiến Thành.
Trần Kiến Nghị – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(79)1999

Hiệu quả từ mô hình tổ chức ban quản lý Vịnh Hạ Long – Phần 3

Quyết định này đã quy định nhiệm vụ cụ thể của Ban Quản lý Vịnh Hạ Long trên cơ sở 8 nhiệm vụ cũ và bổ sung nhiệm vụ về tổ chức bán vé thu phí tham quan, các hoạt động dịch vụ, hướng dẫn tham quan bảo vệ đa dạng sinh học và mở rộng các hoạt động đối ngoại. Cơ cấu tổ chức của Ban quản lý Vịnh Hạ Long được quy định theo quyết định số 419/QĐ – UB như sau: Ban quản lý Vịnh Hạ Long là cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Bộ văn hóa Thông tin – Ủy ban Quốc gia Unesco, Bộ máy chính của Ban gồm: Bộ phận quản lý Nhà nước, phòng NV – NC, Phòng TC – HC – TH, Thanh tra Vịnh Hạ Long, phòng KT – TV, Bộ phận HĐ sự nghiệp, đội quản lý hang động, trung tâm thông tin hướng dẫn tham quan, Bộ phận kinh doanh gồm: trung tâm dịch vụ Vịnh Hạ Long. Với mô hình tổ chức như trên, Ban quản lý Vịnh Hạ Long đã có bước phát triển mới, bước đầu đã đảm đương được nhiệm vụ quản lý một Di sản thế giới và từng bước phát huy được giá trị di sản. Cơ quan này vừa giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện công việc quản lý Nhà nước, vừa trực tiếp tổ chức các hoạt động kinh doanh, trong đó hoạt động kinh doanh được hạch toán riêng. Qua 4 năm thành lập và hoạt động sau khi được kiện toàn như hiện nay, chúng ta có thể khẳng định rằng việc thành lập Ban quản lý Vịnh Hạ Long vào cuối năm 1995 là đúng đắn và cần thiết tổ chức Ban quản lý Vịnh Hạ Long đã được củng cố phát triển với những bước đi thích hợp và chắc chắn. Mô hình Ban quản lý Vịnh Hạ Long hiện nay là thích hợp và phát huy được vai trò, hiệu quả. Điều này thể hiện trên mấy điểm sau đây: Tổ chức này đã đề xuất và giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước đối với Vịnh Hạ Long một cách có hiệu quả, bước đầu giải quyết được tình trạng xâm hại đối với Vịnh Hạ Long và sự lộn xộn trong quản lý, khai thác. Đề xuất và tổ chức thực hiện thành công các chương trình về quản lý môi trường, đầu tư tôn tạo, nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ, tuyên truyền quảng bá, góp phần quản lý tốt hơn, và bước đầu phát huy được giá trị Vịnh Hạ Long. Từng bước phát triển bộ máy tổ chức một cách phù hợp. Với cán bộ đội ngũ 140 cán bộ Công nhân viên như hiện nay, Ban quản lý Vịnh Hạ Long đã được vai trò, là nhân tố chủ trì và chịu trách nhiệm chính trong công tác quản lý Vịnh Hạ Long đồng thời tạo ra được sự phối hợp có hiệu quả với các ngành và địa phương, được các cấp, các ngành và cộng đồng thừa nhận. Phát triển được quan hệ với được quan hệ với các tổ chức quốc tế có liên quan và một số nước góp phần nâng cao một bước vị trí của Vịnh Hạ Long trong cách nhìn của cộng đồng quốc tế và được Unesco, Trung tâm di sản thế giới, IUCN đánh giá cao. Bài học rút ra từ kết quả hoạt động và mô hình tổ chức của Ban quản lý Vịnh Hạ Long là:
Phải tranh thủ và bám sát sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, sự chỉ đạo giúp đỡ của Bộ văn hóa thông tin, Ủy ban quốc gia Unesco Việt Nam, Cục bảo tồn, bảo tàng, các cơ quan nghiên cứu khoa học. Đây là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với kết quả hoạt động của Ban quản lý Vịnh Hạ Long.
Phải có sự kết hợp chặt chẽ với các ngành và địa phương đồng thời dựa vào cộng đồng dân cư để thực hiện nhiệm vụ. Phải chủ động, mạnh dạn tìm tòi suy nghĩ, đề xuất đúng, trúng những chương trình, nội dung công việc, các cơ chế, chính sách để thực hiện chức năng nhiệm vụ. Đề xuất có bước đi thích hợp về phát triển bộ máy tổ chức thích ứng với từng giai đoạn. Củng cố tổ chức phải đi đôi với nâng cao hiệu lực quản lý và thực hiện nhiệm vụ, đề xuất cơ chế chính sách. Đoàn kết nội bộ trên cơ sở xây dựng kỷ cương nề nếp làm việc, thưởng phạt nghiêm minh, công bằng. Tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế và công luận. Có sách lược mềm dẻo nhưng có nguyên tắc trong xử lý các vấn đề nhạy cảm đối với dư luận trong và ngoài nước. Ban quản lý Vịnh Hạ Long cũng còn nhiều vấn đề phải giải quyết và vượt qua, nhất là năng lực cán bộ, kể cả về quản lý và nghiên cứu khoa học, khả năng về ngoại ngữ, năng lực kinh doanh, sức suy nghĩ và đề xuất các vấn đề có tính chiến lược, có chiều sâu… những thành công và kinh nghiệm hôm qua có thể sẽ trở nên lạc hậu và trở thành yếu tố kìm hãm sự phát triển. Ban quản lý Vịnh Hạ Long cần phải vượt lên chính mình, vừa bám sát chức năng nhiệm vụ được giao và sự chỉ đạo của cấp trên, vừa chủ động sáng tạo để có bước phát triển mới, từng bước tương xứng với yêu cầu đặt ra đối với một cơ quan quản lý Di sản thế giới.
Nguyễn Văn Tuấn – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 25(129)2000.

Hiệu quả từ mô hình tổ chức ban quản lý Vịnh Hạ Long – Phần 2

Nhiệm vụ của Ban quản lý Vịnh Hạ Long được quy định tại quyết định này gồm 8 điểm: Tham mưu đề xuất các vấn đề về quản lý Nhà nước, tuyên truyền, kiểm tra giám sát các hoạt động trên Vịnh Hạ Long, cùng Sở Giao thông vận tải quản lý phương tiện chở khách du lịch, xây dựng qui hoạch nghiên cứu khoa học, tổ chức thu phí tham quan, thẩm định các dự án liên quan đến Vịnh Hạ Long và thực hiện các dự án tài trợ khác. Về tổ chức bộ máy có trưởng ban và từ 1 đến 2 phó trưởng ban, Phòng hành chính – nghiệp vụ, đội kiểm tra. Các công tác khác như tổ chức, kế hoạch, tài chính… thực hiện theo chế độ chuyên viên. Tổng số biên chế và quỹ lương được Ủy ban nhân dân tỉnh giao có 12 người. Tháng 3 năm 1996, Ban quản lý Vịnh Hạ Long chính thức bước vào hoạt động theo khung pháp lý trên đây. Định hướng và phương châm hoạt động được Ban quản lý Vịnh Hạ Long xác định và đề xuất với tỉnh là tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc, nổi cộm trước tạo ra chuyển biến thực sự về hiệu lực quản lý Nhà nước trên Vịnh Hạ Long, từng bước đề xuất những công việc có tính chiến lược, lâu dài, kiện toàn, củng cố và mở rộng bộ máy tổ chức, qui mô hoạt động phù hợp với khả năng và yêu cầu của từng giai đoạn, bám sát sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, tranh thủ sự chỉ đạo giúp đỡ của Bộ Văn hóa Thông tin, Ủy ban Quốc gia Unesco của Việt Nam, Cục bảo tồn bảo tàng và sự giúp đỡ quốc tế, phối hợp chặt chẽ với các ngành, địa phương ở Quảng Ninh nhằm tạo ra sự kiểm soát toàn diện đối với Vịnh Hạ Long. Phương châm trên đã được coi là nguyên tắc hoạt động và ứng xử với các vấn đề đặt ra. Trong 2 năm 1996, 1997, Ban quản lý Vịnh Hạ Long tập trung chủ yếu vào các hoạt động kiểm tra ngăn chặn các vi phạm, lập lại trật tự trong quản lý hang động, bán vé thu phí tham quan Vịnh Hạ Long, quản lý phương tiện chở khách du lịch, tuyên truyền quảng bá, đề xuất cơ quan thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, lập các bản đồ quản lý và danh mục đảo. Đến cuối năm 1997 trật tự quản lý trên Vịnh Hạ Long về cơ bản đã được thiết lập. Theo đề nghị của Ban quản lý Vịnh Hạ Long, cuối năm 1996, Ủy ban nhân dân tỉnh đã quyết định thu hồi toàn bộ các hang động trên Vịnh Hạ Long trực tiếp quản lý, đồng thời quyết định thành lập đội quản lý hang động trực thuộc Ban quản lý Vịnh Hạ Long với tư cách là một đơn vị hoạt động sự nghiệp. Sự thành lập đội quản lý hang động đã đẩy đến sự phát triển có tính đột biến đối với Ban quản lý Vịnh Hạ Long. Từ cuối năm 1997, đến hết năm 1999, Ban quản lý Vịnh Hạ Long đã đề xuất và được Ủy ban nhân dân tỉnh cho phép triển khai các dự án tu bổ tôn tạo, khai thác động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, hang Sửng Sốt, bãi tắm Ti Tốp, tạo ra những điểm du lịch thực sự hấp dẫn. Cùng với các dự án trên, Ban quản lý Vịnh Hạ Long đề xuất thành lập Trung tâm thông tin hướng dẫn tham quan Vịnh Hạ Long nhằm phát triển, đào tạo và nâng cao chất lượng đội ngũ hướng dẫn viên. Các công việc có chiều sâu, và có tính chiến lược như nghiên cứu khoa học, thông tin tuyên truyền, thiết lập và củng cố quan hệ với các tổ chức quốc tế, triển khai quy hoạch quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị Vịnh Hạ Long đến năm 2020, củng cố và phát triển bộ máy tổ chức, đào tạo cán bộ, tăng cường trang thiết bị, đề xuất các cơ chế chính sách quản lý… đã được Ban hết sức quan tâm và triển khai khẩn trương nhưng chắc chắn và có hiệu quả. Ban Quản lý Vịnh Hạ Long đã tranh thủ được sự giúp đỡ to lớn và có hiệu quả của Bộ Văn hóa Thông tin, Ủy ban Quốc gia Unesco của Việt Nam, IUCN, Unesco, Bộ khoa học Công nghệ và Môi trường… Đứng trước những yêu cầu và điều kiện phát triển mới, đầu tháng 3 năm 1999, Ban quản lý Vịnh Hạ Long và Ban Tổ chức Chính quyền tỉnh Quảng Ninh đã đề xuất, và được Ủy ban nhân dân tỉnh chấp thuận và ban hành quyết định số 419/QĐ – UB, ngày 2 tháng 3 năm 1999 quy định lại chức năng nhiệm vụ và bộ máy tổ chức của Ban quản lý Vịnh Hạ Long đồng thời tạo ra điều kiện để Ban quản lý Vịnh Hạ Long có bước phát triển mới. Theo quyết định này, Ban quản lý Vịnh Hạ Long được xác định: “Là cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, có chức năng giúp tỉnh quản lý Nhà nước, bảo tồn, khai thác và phát huy giá trị của Vịnh Hạ Long mà trọng tâm là khu vực Di sản thiên nhiên thế giới đã được Unesco công nhận, đồng thời chịu sự quản lý, chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ, của Bộ văn hóa Thông tin và Ủy ban Quốc gia Unesco của Việt Nam.
Nguyễn Văn Tuấn – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 25(129)2000.

Hiệu quả từ mô hình tổ chức ban quản lý Vịnh Hạ Long – Phần 1

Vịnh Hạ Long được Bộ văn hóa Thông tin công nhận là Di tích danh thắng quốc gia theo quyết định số 313 – VH/VP ngày 28 tháng 4 năm 1962 cùng với 69 di tích danh thắng khác. Đây là đợt công nhận đầu tiên sau ngày hòa bình được lập lại ở miền Bắc. Đến tháng 12 năm 1994, Vịnh Hạ Long được Unesco công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới. Đặc điểm nổi bật của Vịnh Hạ Long là chứa đựng nhiều giá trị phong phú và trải trên một không gian rộng lớn. Ngoài giá trị hiển nhiên về thẩm mỹ, khu vực này còn có những giá trị to lớn về đa dạng sinh học, địa chất đại mạo và lịch sử văn hóa với hàng loạt di chỉ khảo cổ chứng tích của một quá trình tồn tại lâu dài, không đứt đoạn từ hậu kỳ đá cũ đến sơ kỳ kim khi cách ngày nay từ 11 nghìn đồng năm đến 2.500 năm. Phạm vi bảo vệ quốc gia của Vịnh Hạ Long rộng 1.553 km vuông bao gồm 1969 hòn đảo, thuộc địa phận thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả, huyện Vân Đồn, huyện Hoành Bồ và huyện Yên Hưng khu vực bảo vệ tuyệt đối được công nhận là Di sản thế giới rộng 343 km vuông với 775 hòn đảo được giới hạn bởi 3 điểm là Đầu Gỗ ở phía tây, Ba Hầm ở phía Nam và Cổng Tây ở phía Đông. Hạ Long cũng là nơi chứa đựng nhiều tiềm năng kinh tế và là khu vực diễn ra nhiều hoạt động kinh tế như giao thông thủy, cảng biển, đánh bắt nuôi trồng hải sản phát triển du lịch. Bởi vậy, Hạ Long là đối tượng quản lý của nhiều ngành, nhiều địa phương và đương nhiên, chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Ngoài ra, Hạ Long còn nằm kế 2 đô thị đang phát triển mạnh mẽ là Thành phố Hạ Long và thị xã Cẩm Phả cùng với hoạt động công nghiệp trong khu vực, vì vậy nói chịu sức ép rất lớn của sự phát triển đô thị và công nghiệp. Những năm gần đây, Vịnh Hạ Long đang dần trở thành một trung tâm du lịch lớn của Việt Nam, một mặt nó sẽ đưa lại những cơ hội lớn nhằm phát triển du lịch, đem lại sự hưởng lợi cho cộng đồng nhưng nó cũng là thách thức không nhỏ nếu không được kiểm soát về môi trường, nhất là trong điều kiện ý thức của cộng đồng về vấn đề này chưa cao. Với tất cả những đặc điểm trên, ta thấy rằng quản lý Vịnh Hạ Long là một công việc thực sự phức tạp, cần phải có định hướng và chính sách, giải pháp đúng, đồng thời phải có một tổ chức quản lý phù hợp đảm trách vai trò chủ trì và chịu trách nhiệm chính. Từ tháng 12 năm 1995 về trước, Vịnh Hạ Long thuộc sự quản lý của Sở Văn hóa Thông tin mà trực tiếp là Bảo tàng Quảng Ninh, sau này giao cho Ban quản lý di tích – thắng cảnh Quảng Ninh. Nhưng Ban quản lý di tích – thắng cảnh chỉ có 6 người, phải quản lý một hệ thống gồm nhiều di tích, thắng cảnh trên địa bàn toàn tỉnh lại không được đầu tư các trang thiết bị cần biết nên không thể tập trung quản lý có hiệu quả một thắng cảnh – Di sản thế giới như Vịnh Hạ Long. Mặt khác địa vị pháp lý và chức năng, thẩm quyền của Ban quản lý di tích – thắng cảnh được quy định không cho phép cơ quan này có điều kiện kiểm soát và quản lý có hiệu quả Vịnh Hạ Long. Tình hình những năm 1994, 1995 có nhiều vấn đề phức tạp xảy ra: việc phá đá nung vôi, bắn mìn, chặt phá cây cảnh, khai thác san hô, lấy nhũ đá xảy ra ở nhiều nơi, giá trị cảnh quan bị xâm hại, tình trạng quản lý hang động lộn xộn, tùy tiện làm cho môi trường du lịch bị xấu đi. Môi trường tự nhiên không được kiểm soát, hoạt động tham quan du lịch thiếu quản lý. Trước tình hình đó, yêu cầu thành lập một cơ quan quản lý Vịnh Hạ Long chuyên trách với địa vị pháp lý, chức năng, thẩm quyền, bộ máy tổ chức và cán bộ phù hợp đã trở thành một vấn đề có tính bức xúc. Đây cũng chính là một trong những điều khuyến nghị của Unesco sau khi Vịnh Hạ Long được công nhận là Di sản thế giới. Trong bối cảnh đó, cuối năm 1995, Sở văn hóa – Thông tin Quảng Ninh và Ban tổ chức Tỉnh Ủy đã đề nghị Tỉnh ủy Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập Ban quản lý Vịnh Hạ Long. Ngày 23 tháng 11 năm 1995, tập thể Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra thông báo số 797 TB/TU về việc thành lập Ban quản lý Vịnh Hạ Long trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh. Quảng Ninh đã ban hành Quyết định số 2796 – QĐ/UB thành lập Ban quản lý Vịnh Hạ Long. Tiếp đó, ngày 13 tháng 1 năm 1996, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quyết định số 99 QĐ/UB quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ban quản lý Vịnh Hạ Long. Theo quyết định này, Ban quản lý Vịnh Hạ Long là cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, giúp Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý Nhà nước Vịnh Hạ Long mà trọng tâm là khu vực Di sản thế giới đã được Unesco công nhận.
Nguyễn Văn Tuấn – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 25(129)2000.

Hình ảnh nước Việt Nam đã được cải thiện rất nhiều trong con mắt người nước ngoài

Quảng cáo về du lịch cũng tăng lên trên mặt báo, màn hình, radio… Nhờ vậy, nhận thức của xã hội về du lịch cũng cao hơn. Người làm du lịch như được hỗ trợ mạnh mẽ khi tờ báo này, tạp chí này, tạp chí kia có bài viết nói về lợi ích của du lịch ngành công nghiệp không khói. Đối với sự phát triển của đất nước, phê phán tệ nạ xã hội, cảnh ăn xin, quấy rầy khách ở các điểm du lịch, lên tiếng báo động trước những hành vi vi phạm di tích lịch sử, văn hóa…. Báo chí trong nước cũng có nói đến ngành du lịch các nước, những danh lam thắng cảnh trên thế giới thu hút khách du lịch cả nước, những danh lam thắng cảnh trên thế giới thu hút khách du lịch giúp cho du lịch Việt Nam nhiều bài học kinh nghiệm quý. Mặt khác, du lịch Việt Nam, di tích lịch sử văn hóa nước ta đã được báo chí Việt Nam xuất bản bằng tiếng nước ngoài đưa lên trang báo, lên Internet. Vì vậy hình ảnh nước Việt Nam đã được cải thiện rất nhiều trong con mắt người nước ngoài. Chị Cao Thị Ngọc Lan ở công ty du lịch Hà Nội nói rằng, đến Hồng Kông, Ma Cao, chị rất ngạc nhiên khi thấy có người ở đây nói hiện ở Việt Nam đã kết thúc cách đây là 25 năm và đã có một nước Việt Nam thống nhất, đổi mới, đơn vị chịu sự tác động rất lớn của báo chí. Và cũng có thể nói báo chí đã đóng góp phần không nhỏ vào sự đi lên của đơn vị. Không phải nhờ vào những bài báo tô hồng, Công ty Du lịch Hà Nội lớn lên bởi những tờ báo có tính chiến đấu cao, nhiều khi phê phán Công ty mạnh mẽ. Những người mong mỏi cho công ty lớn mạnh, góp phần vào sự phát triển của Thủ đô, không bị dị ứng với các bài báo phê phán có thiện chí. Họ cho rằng một bài báo mà nhiều người có ý kiến khác nhau, lại có thể rất bổ ích cho đơn vị. Vì hiện nay, Nhà nước đang đòi hỏi doanh nghiệp đổi mới. Mà muốn đổi mới phải có cách nhìn mới, con đường làm ăn mới. Thông thường, những ái mới có được là do nhiều ý kiến khác nhau. Qua tìm hiểu chúng tôi nhận thấy những người làm du lịch đang quan tâm tới những vấn đề sau đây và hy vọng vào sự giúp sức của báo chí. Báo chí tuyên truyền thường xuyên hơn, có trọng điểm về du lịch như Du lịch xanh, du lịch cội nguồn, bảo vệ di tích lịch, di sản văn hóa, môi trường văn hóa du lịch. Báo chí cần lên tiếng về tình trạng hạ tầng cơ sở xuống cấp ở các điểm vui chơi, du lịch. Tiếng nói của báo chí sẽ có tác động đến việc ban hành chính sách mới của Chính phủ đối với ngành văn hóa, du lịch. Từ đó ngành Du lịch sẽ có thêm điều kiện phát triển. Báo chí đưa ra nhiều thông tin về du lịch Việt Nam ra nước ngoài. Có thông tin thì lượng khách du lịch nước ngoài đến Việt Nam mới tăng lên. Người viết báo về du lịch cần hiểu về du lịch nhiều và sâu hơn để trở thành các chuyên gia tư vấn cho ngành, do yêu cầu, đòi hỏi của bạn đọc, của người làm du lịch với bài viết về du lịch ngày càng cao hơn.
Nguyễn Minh Nguyên-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Stipe Mesic cũng sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn

Ngày 18 tháng 2 năm 2000, tân Tổng thống Croatia trước sự chứng kiến của nhiều quan khách trên thế giới. Theo các nhà phân tích thì sự xuất hiện của hơn 70 phái đoàn nước ngoài, trong đó có cả ngoại trưởng các nước phương Tây như Mỹ, Đức, Áo, Thổ đã làm cho danh tiếng của ông Stipe Mesic càng thêm vang dội. Ông Stipe Mesic tốt nghiệp đại học luật năm 1960, đã từng làm pháp quan, giám đốc rồi thị trưởng. Năm 1971 bị tù 1 năm vì tội bất đồng chính kiến. Cuối năm 1989, ông Stipe Mesic bắt đầu lại cuộc tham chính của mình với việc xây dựng cộng đồng dân chủ Croatia. Năm 1990 cộng đồng dân chủ Croatia bắt đầu tham gia chấp chính và ông Stipe Mesic đã được bầu làm thủ tướng của Croatia. Tháng 7 năm 1991, ông Stipe Mesic là chủ tịch đoàn chủ tịch liên bang cuối cùng ở liên bang Nam Tư, trước khi Nam Tư bị giải thể. Tháng 9 năm 1992, ông Stipe Mesic được bầu làm nghị trưởng. Tháng 5 năm 1994, do bất đồng chính kiến với tổng thống Franco Tudjman nên ông đã bị mất chức Nghị trưởng. Sau khi mất chức Nghị trưởng, ông đã đứng ra thành lập đảng Dân chủ độc lập Croatia và từ đó đến nay tên tuổi của ông luôn được nhắc tới của mình, nhưng ông Stipe Mesic vẫn giữ được sở thích đọc truyện ký, văn học sử của một số doanh nhân. Ông là một người có tính cách vui vẻ và rộng lượng. Khi được hỏi kế hoạch sắp tới của mình, ông Stipe Mesic đã nói, sẽ cố gắng làm tốt chức trách của mình, muốn trở thành một Tổng thống thanh liêm, chất phác, không đi theo bệnh sùng bái cá nhân. Ông chủ trương hạn chế bớt quyền hành của Tổng thống, khi đi công tác ra nước ngoài không đi chuyên cơ, đề nghị bán bớt một số ô tô đắt tiền trang bị cho Tổng Thống, cho thuê một số biệt thự dành riêng cho Tổng thống, cố gắng giảm bớt một số cơ quan không cần thiết trong chính phủ giảm từ 20% đến 40% tổng mức lương dành cho quan chức chính phủ, đề nghị cơ quan tư pháp tiến hành làm rõ những vụ việc làm ăn sai trái, tham nhũng, hủ bại trong hàng ngũ quan chức cấp cao của cộng đồng dân chủ Croatia triệt để thanh toán những tàn dư mà cố Tổng thống Franco Tudjman để lại. Ngoài ra, ông cũng mong muốn tân chính phủ, tân quốc hội sẽ hợp tác tốt với ông trong quá trình điều hành đất nước. Đặc biệt ông sẽ sớm để Croatia gia nhập trở lại với công việc thường ngày của châu âu, nhanh chóng gia nhập EU và khối NaTo đây được coi là những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu hiện nay của ông. Mặc dù đề ra những việc kể trên, nhưng ông Stipe Mesic cũng sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn đã, đang và sẽ đặt ra đối với một đất nước có nền kinh tế yếu kém cũng như nhiều vấn đề xã hội phức tạp khác. Đây là sản phẩm để lại của cố tổng thống Franco Tudjman. Hơn nữa ông Stipe Mesic còn phải đối mặt với cuộc đấu tranh quyền lực tiềm tàng giữa ông với Thủ tướng Ivica Racan người thuộc phái dân chủ xã hội Dân chủ xã hội và việc này sẽ làm chậm bước tiến cải cách ở Croatia. Nói chung người dân Croatia đang hy vọng có những đổi thay sau khi đất nước họ có được tân Tổng thống.
Trang Cường -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Chương trình hành động quốc gia và các sự kiện du lịch Việt Nam năm 2000

Năm nay, tập đoàn phát triển sentosa – Singapore, một trong những tập đoàn kinh doanh về dịch vụ du lịch, vui chơi giải trí hàng đầu thế giới đã quyết định chọn Việt Nam làm chủ đề cho hộ chợ chuyên đề các quốc gia được tổ chức tại Sentosa – Singapore. Đây là lần đầu tiên Công ty du lịch Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh được tổng cục du lịch ủy quyền phối hợp với công ty nước ngoài tổ chức hội chợ nhằm giới thiệu với khách du lịch các nước về hình ảnh đất nước, con người Việt Nam thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ, ẩm thực đậm đà bản sắc dân tộc. Cùng tham dự hội chợ còn có đoàn múa rối nước của sở văn hóa Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh, công ty du lịch Dịch vụ Dầu khí Việt Nam OSC, khách sạn Mondial, khách sạn Asean thành phố Hồ Chí Minh và gần 20 doanh nghiệp tiểu thủ công mỹ nghệ Việt Nam. Hội chợ về đất nước Việt Nam năm nay thu hút sự quan tâm lớn của hàng nghìn khách, đại biểu tham dự, gồm các quan chức du lịch cao cấp của cơ quan du lịch quốc gia các nước, các nhà quản lý, kinh doanh báo chí trong và ngoài khu vực Asean, là dịp gặp gỡ trao đổi kinh nghiệm chuyên môn quản lý và phát triển du lịch. Đây thực sự là hoạt động hiệu quả mang ý nghĩa quan trọng trong việc hưởng ứng triển khai Chương trình hành động quốc gia và các sự kiện du lịch Việt Nam năm 2000. Xuất phát từ tính chất chuyên đề về Việt Nam của Hội chợ, Việt Nam được Ban tổ chức ưu tiên, hỗ trợ dành 400 mét vuông nằm trung tâm để xây dựng các gian hàng và phục vụ các hoạt động biểu diễn văn nghệ. Công ty du lịch Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, với tư cách là đồng tổ chức, đã nghiêm túc, tích cực chỉ đạo sát sao các doanh nghiệp Việt Nam tham gia, từ khâu thiết kế gian hàng đến thống nhất chương trình hoạt động hội chợ. Ngay sau khi Đại sứ Việt Nam, đại diện Lãnh đạo Tổng cục du lịch và ban tổ chức cắt băng khai mạc hội chợ, hàng ngàn du khách các nước đổ dồn về trung tâm sân khấu Sentosa. Để thưởng thức chương trình ca múa nhạc dân tộc đặc sắc do đoàn nghệ thuật Âu Cơ trình diễn. Tại sân khấu múa rối nước, với chương trình rối nước phong phú, sinh động mô tả về hình ảnh, nét dân gian truyền thống của dân tộc Việt Nam, dưới sự điều khiển khéo léo, điêu luyện của các nghệ sỹ múa rối đã gây ấn tượng sâu sắc, thu hút sự cảm phục của đông đảo người xem. Với sự chuẩn bị chu đáo và phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị tham gia hầu hết các ấn phẩm đều in dòng chữ Việt Nam điểm đến của Thiên niên kỷ mới, số lượng ấn phẩm dồi dào, đa dạng, đạt tiêu chuẩn quốc tế, các đơn vị tham gia đều có tên trên ấn phẩm… Trong khung cảnh trang hoàng lộng lẫy chung của hội chợ, 20 gian hàng Việt Nam nổi bật lên với, những nội dung phong phú, nét bài trí độc đáo của Du lịch Việt Nam cùng với sự đa dạng về sản phẩm thủ công mỹ nghệ đã hấp dẫn, thu hút sự quan tâm chú ý của khách tham quan. Bên cạnh các gian hàng chính của Việt Nam dự hội chợ là khu ẩm thực do nhân viên khách sạn Mondial công ty du lịch Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh và công ty Du lịch dịch vụ dầu khí Việt Nam đảm nhiệm giới thiệu với du khách những món ăn độc đáo, đặc trưng ba miền. Trong suốt thời gian diễn ra hội chợ, gian hàng của Việt Nam luôn là điểm tấp nập thu hút khách tham quan. Mỗi ngày có khoảng 2.500 đến 3.500 khách vào khu vực hội chợ mua sắm hàng, thưởng thức món ăn Việt Nam. Tại hai điểm múa rối nước và ca múa nhạc, bình quân mỗi ngày có từ hai đến ba suất diễn, nhưng lúc nào cũng đông kín người xem. Do có chuẩn bị tốt về nội dung, thủ tục và nhân sự, sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị tham gia, sự chỉ đạo sát sao, thống nhất của Tổng cục du lịch thông qua công ty du lịch Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh, việc tham dự hội chợ đất nước Việt Nam tại đảo Sentoa – Singapore đã mang lại kết quả tốt đẹp. Tuy nhiên, cần thấy rằng trong điều kiện tài chính, kinh nghiệm tuyên truyền, xúc tiến, quảng bá du lịch Việt Nam ra nước ngoài còn hạn chế, chúng ta nên tranh thủ mọi nguồn hỗ trợ, đặc biệt kết hợp với các đối tác nước ngoài có uy tín, kinh nghiệm, có mối quan tâm thực sự đến Du lịch Việt Nam để tăng cường, nâng cao năng lực, hiệu quả xúc tiến, quảng bá. Vấn đề cần lưu ý là trong hoạt động tham dự hội chợ, ấn phẩm quảng cáo, vật phẩm lưu niệm là yếu tố vô cùng quan trọng nghiên cứu về nội dung thông tin cũng như hình thức tiêu chuẩn nhằm đảm bảo tính chi tiết, đầy đủ, hấp dẫn và đáp ứng được yêu cầu đích thực của khách về thông tin họ cần. Khách sạn tọa lạc tại trung tâm thành phố Quy Nhơn một địa điểm thuận lợi nhất cho quý khách trong việc giao dịch, đi lại công tác, tham quan và vui chơi giải trí. Khách sạn có 65 phòng đầy đủ tiện nghi sử dụng thang máy. Nhà hàng phục vụ các món ăn u Á. Sân đậu xe rộng rãi an toàn. Dịch vụ Massage, Karaoke…
Đặng Văn Tín-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.