Đường con số ba – Phần 2

Hắn cố chờ đợi để có một nơi an toàn tuyệt đối, tinh khiết và những giọt máu huyền ảo hắn phải giữ lại cho đến suốt đời, nó phải ở trong chiếc cặp, trong túi ngực, thậm chí có lúc hắn nghĩ phải là một lá bùa đeo ở cổ để vận của hắn phải luôn gặp may, con đường công danh của hắn phải nhờ những giọt máu ấy mà rạng lên. Bây giờ, đến một đất nước xa lạ, tiện nghi hiện đại, một nước là Rồng, Rồng là biểu hiện của tột đỉnh vinh quang. Ở đây, trong căn phòng sang trọng, máy lạnh lọc không khí tạo nên căn phòng mát rượi. Mọi thứ trong phòng đều sạch đến mức tinh khiết, khăn trải giường trắng muốt và khi vào trong phòng thì nó là một thế giới nhỏ riêng biệt, chẳng có cách gì ở bên ngoài nhìn vào huống gì là bước vào. Trần Trung đã chuẩn bị sẵn bên mình một chiếc khăn trắng siêu mỏng, loại khăn mouchoir cực kỳ tốt được gói cẩn thận bên mình trong một chiếc khăn khác, sạch sẽ…
Trần Trung bấm chuông, cửa phòng vừa hé mở, một làn hơi thơm nhè nhẹ, có cả mùi của nước hoa hạng sang và mùi của phụ nữ, loại mùi mà chỉ cần lỗ mũi với hệ thống thần kinh nhạy cảm là có thể nhận ra. Trần Trung ngây ngất, như con thú giống đực ngửi thấy mùi động tình của giống cái trong mùa giao phối, hắn nhận biết người đứng trước mặt hắn vui mừng và toát ra loại mùi của sự sẵn sàng. Tuy nhiên, hắn cũng biết rất rõ con người có bộ não hoàn toàn khác với bộ não của con thú. Con người biết phải trái, biết nhận ra sự giả dối, lừa lọc với sự chân thực và yêu thương. Đối với cô gái này hắn phải cẩn thận.
Lý rất đỗi vui mừng khi Trần Trung, người lãnh đạo của cô trực tiếp sang thăm cô trong lúc này, cô vội vàng mời Trần Trung ngồi vào một trong hai chiếc ghế salon người ta bố trí cho một phòng đơn loại sang. Trần Trung đưa mắt quan sát khắp gian, hắn dừng lại ở vòng số ba của Lý khi nàng cúi xuống phía dưới ngăn bàn viết, lấy ra một chai nước suối. Tại nơi đẹp nhất của đường con số ba, hắn nhìn rất rõ hai đường chéo nhô lên ôm trọn vòng tròn tuyệt đẹp trong bộ quần áo ngủ loại vải mềm, trắng, pha những hạt đen nho nhỏ trông rất duyên dáng và lạ mắt. Lý mặc bộ quần áo nào Trần Trung cũng thấy đẹp và sang trọng, chẳng biết có phải vì Trần trung quá say mê Lý, mà tưởng tượng ra bên trong bộ quần áo là một tác phẩm tuyệt đẹp của tạo hóa làm hắn mê đắm, đeo đuổi hàng năm trời nay với biết bao kỳ công ? Hắn biết Lý từng nói với bạn của nàng rằng hắn là một người thông minh và cao thượng, một người hoàn toàn có thể tin cậy được và có lẽ vì vậy mà Lý chẳng mảy may đề phòng.
Lê Thành Chơn-Tuần Du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Đường con số ba – Phần 1

Hồi ấy, hắn lờ mờ biết được mình đã được hưởng, cái mà bạn bè của hắn cho là đời người phụ nữ có ba cái chỉ có một lần xảy ra, đó là sinh, tử và màng trinh; còn tất cả mọi thứ kể cả cưới, hỏi có khi một đời người xảy ra tới mấy lần. Nhưng, đối với hắn màng trinh của người con gái còn làm cho hắn vừa là cái mốc của sự chinh phục mà thằng đàn ông nào cũng muốn càng nhiều càng tốt, vừa là sự may mắn trên con đường công danh của hắn, vừa là chứng chỉ của ông thần tài mỗi khi có một áp phe lớn. Hắn vẫn rủa giả những kẻ đã phê phán cái quan niệm ngông cuồng của hắn là ngu, là đạo đức giả. Hắn lao vào cuộc tìm kiếm màng trinh như tìm kiếm một báu vật cho dù đó là mục đích của cuộc đời, hắn cũng chỉ tìm được hàng chục cơ thể khác nhau của nhiều người phụ nữ, rốt cuộc chẳng ai còn trinh nữ, hắn thất vọng, và đôi lúc hắn cho rằng trên đời này làm gì có người con gái nào còn trinh tiết. Ở cơ quan hắn, có biết bao cô gái tự nguyện đến với hắn cũng như có biết bao cô gái hắn chinh phục bằng mọi giá cũng chẳng có cô nào còn… Bây giờ, Lý đang ở cách hắn chỉ một bức vách, hắn ước gì có phép thần biến bức vách chỉ còn là một làn sương nhẹ và hắn có thể nhìn thấy nàng qua cặp mắt bình thường của hắn, hắn muốn nhìn thấy nàng nằm, thấy nàng tắm và điều mong muốn cháy bỏng là hắn muốn hưởng sự trong trắng của bức màn kỳ diệu của người con gái mà hắn nghĩ rằng nàng chắc chắn là đang còn. Chính sự linh cảm ấy mà hắn đã tuyển nàng, đã bố trí công việc hợp với nàg, giữ gìn nàng. Bây giờ cũng chính hắn và cũng chỉ có hắn với phép phù thủy hỏa công bố trí cho nàng cùng đi với hắn trong chuyến đi kỳ diệu này… Trần Trung nhẩm tính từng bước chinh phục, hắn đã khen ngợi sắc đẹp, đã ca ngợi trí thông minh và hắn cố làm ra vẻ không cần đến nàng vì xung quanh hắn lúc nào mà chẳng có những cô gái trẻ, đẹp, hiện đại vây quanh. Một hôm, trong chuyến đi công tác về cùng rừng núi, chỉ có nàng và hắn ở lại, người ta bố trí cho hắn và nàng ngủ cùng một nhà dân, hắn đã không đoái hoài gì đến cô, trong khi hắn lại nhắc đến một cô gái khác với vẻ thán phục. Lòng tự ái bị xúc phạm… gần sáng cô giả đò đến ngồi ở đầu giường của hắn, cố động vào người hắn… hắn biết và nếu muốn, hắn đã có thể, nhưng hắn biết rất rõ người chủ nhà và người bảo vệ dễ dàng biết được nếu hắn hành động; vả lại hắn muốn không phải chỉ cơ thể của cô mà cái chính là bức màng kỳ diệu bên trong cơ thể của cô.
Lê Thành Chơn-Tuần Du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Triển lãm ảnh trẻ “Tôi một tuổi”

Câu lạc bộ nhiếp ảnh Thanh niên Hà Nội đã kỷ niệm sinh nhật một cách đầy ý nghĩa bằng triển lãm ảnh “Tôi một tuổi” khai mạc tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam ngày 6/9 vừa qua.
Dưới sự dìu dắt tận tình của nghệ sĩ nhiếp ảnh Trọng Thanh – người thầy – chủ nhiệm danh dự của Câu lạc bộ, 24 thành viên, trong đó nhiều người trước đây chưa hề cầm máy, đã từng bước khẳng định mình. Từ triển lãm ảnh ra mắt “Hà Nội của tôi” đến “Tôi một tuổi, người xem nhận thấy các “tay máy” đã chững chạc, tự tin hơn nhiều. 24 gương mặt non trẻ với nhiều ngành nghề, công việc khác nhau nhưng đều có chung một niềm đam mê – đó là nghệ thuật nhiếp ảnh. Triển lãm giới thiệu 60 bức ảnh phong cảnh và chân dung ghi lại những hình ảnh những con người ở nhiều miền đất như Sa Pa, Mai Châu, Bắc Ninh, Hạ Long, Hội An… Tất cả đều toát lên sự trong trẻo, yêu đời nhưng cũng ẩn chứa cái nhìn suy tư, sâu lắng của những người trưởng thành trong thời kỳ đổi mới. Người xem cảm nhận được vẻ tươi tắn, nguyên sơ của mùa xuân vùng cao từ những cánh đào phớt hồng, gương mặt rạng ngời của thiếu nữ người dân tộc trong ảnh Đặng Hào; cảnh đẹp hùng vĩ đầy sức lôi cuốn của thiên nhiên Sa Pa trong bức “Thác Bạc” của Mạnh Cường nhưng cũng trầm tư trước “lặng” của Trà My – một con thuyền lẻ loi nổi bật trên nền xanh thẳm của dòng sông như một dấu chấm than lớn. Vọng Ngàn với bức ảnh đen trắng “Hà Nội của tôi” đã trả lại cho Tháp Rùa – Hồ Gươm vẻ rêu phong, cổ kính ngày xưa. Một vài bức ảnh thu hút người xem bởi góc nhìn và cách sắp xếp khá độc đáo của tác giả như “Bố cục” của Vũ Linh hay “Ráng chiều” của Quốc Tuấn…
Hy vọng, Câu lạc bộ Nhiếp ảnh Thanh niên Hà Nội sẽ kết nạp thêm được nhiều thành viên mới và tiếp tục khẳng định mình trên con đường nghệ thuật nhiều chông gai và thử thách này.
Tin văn hoá nghệ thuật
Mới đây, Bộ Văn hoá Thông tin có văn bản đồng ý để Trung tâm hợp tác báo chí truyền thông quốc tế đón và hướng dẫn đoàn làm phim truyền hình Thuỵ Điển (SVT) làm bộ phim tài liệu giới thiệu về Văn Hoá Việt Nam và sự hợp tác giữa Việt Nam – Thuỵ Điển trên công trình thuỷ điện Sông Hinh (Phú Yên). Bộ Văn hoá Thông tin cũng yêu cầu mọi vật liệu ghi hình, ghi tiếng của phim phải được các cơ quan chức năng xem xét, cấp phép trước khi xuất khỏi Việt Nam.
Thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Văn hoá Thông tin, Trung tâm Triển lãm Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam dang phối hợp với Vụ Hợp tác quốc tế và Cục Bảo tồn Bảo tàng để chuẩn bị cho việc tham gia triển lãm nghệ thuật về di sản văn hoá ASEAN tổ chức tại Philippin vào tháng 11-1999.
Qua khảo sát, toàn tỉnh Kon Tum còn 265 nhà rông và 1853 bộ cồng chiêng của các dân tộc Sê Đăng, Dẻ Triêng, Barnar, Jơrai. Nhà rông nhiều nhất là huyện Konplông: 75 nhà, huyện Sa Thầy còn 329 bộ cồng chiêng, nhiều nhất tỉnh. Trừ một số ít nhà rông làm mới, đa số nhà rông làm lâu năm, bằng chất liệu gỗ, mây tre, tranh… nên đã xuống cấp, hư hỏng không có kinh phí sửa chữa. một số gia đình đã bán cồng chiêng để mua các loại nhạc cụ khác. Ngành Văn hoá Thông tin Kon Tum đang lập dự án bảo tồn và khôi phục nét đẹp cổ truyền của nhà rông Tây Nguyên và phát huy giá trị văn hoá của cồng chiêng các dân tộc bản địa.
Vân Thiêng – Tuần Du Lịch – Số 38(90) Từ 20-27/9/1999

Lãnh đạo Tổng cục du lịch tiếp Phó Chủ tịch Quốc hội Inđônêxia

Ngày 6/7/1999 tại Hà Nội, thay mặt lãnh đạo Tổng cục Du lịch, Phó Tổng cục trưởng Phạm Từ đã tiếp bà Fatimah Achmad, Phó Chủ tịch Quốc hội nước cộng hòa Inđônêxia đang ở thăm và làm việc tại Việt Nam.Phó Tổng cục trưởng Phạm Từ đã thông báo với bà Fatimah Achmad và các vị cùng đi một số nét về tình hình phát triển của Du lịch Việt Nam trong những năm qua, đồng thời nêu rõ chủ trương coi trọng và tạo điều kiện thuận lợi của Chính phủ Việt Nam trong việc phát triển Du lịch vào những năm tới.
Bà Fatimah Achmad đánh giá cao tiềm năng và sự phát triển nhanh chóng của ngành Du lịch Việt Nam; khẳng định sự ủng hộ của Chính phủ Inđônêxia trong mối quan hệ hợp tác phát triển Du lịch giữa hai nước Việt Nam và Inđônêxia.
Tại buổi tiếp hai bên đã trao đổi một số kinh nghiệm quản lý, khai thác vốn đầu tư phát triển Du lịch…., đồng thời mong muốn Chính phủ hai nước sớm có sự thỏa thuận song phương về việc miễn thị thực xuất nhập cảnh cho khách du lịch hai nước qua lại lẫn nhau trong tương lai.
Thành lập hội đồng thẩm định xếp hạng khách sạn
Ngày 2/7/1999 Tổng Cục trưởng Tổng cục Du lịch Võ Thị Thắng đã ký quyết định số 198/1999/QĐ-TCDL thành lập Hội đồng thẩm định xếp hạng khách sạn của Tổng cục Du lịch. Hội đồng gồm 6 thành viên do Phó Tổng cục trưởng Đặng Văn Tín làm Chủ tịch. Hội đồng có nhiệm vụ thẩm định để tư vấn cho Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch việc xếp hạng khách sạn trong phạm vi cả nước. Hoạt động của Hội đồng thực hiện theo Quy chế làm việc do Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch phê duyệt. Quyết định này thay thế cho Quyết định số 35/TCDL ngày 5-3-1994 của Tổng cục Du lịch và có hiệu lực thi hành kể từ 17-7-1999.
Thành lập Hội đồng Khoa học kỹ thuật của Tổng cục Du lịch
Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Võ Thị Thắng vừa ký Quyết định số 199/1999/QĐ-TCDL (ngày 2-7-1999) về việc thành lập Hội đồng Khoa học kỹ thuật của Tổng cục Du lịch. Hội đồng gồm 12 thành viên. Phó Giáo sư – Phó Tiến sĩ Vũ Tuấn Cảnh – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch làm Chủ tịch Hội đồng.
Hội đồng có nhiệm vụ tư vấn cho Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch về các vấn đề khoa học – công nghệ – môi trường liên quan đến các hoạt động của Tổng cục Du lịch. Hoạt động của Hội đồng tiến hành theo Quy chế do Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch phê duyệt .
Quyết định này có hiệu lực từ ngày 17-7-1999 và thay cho những Quyết định truớc đây về vấn đề này.
P.V – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Đường Lam Sơn chất lượng Vàng quốc gia – Phần 2

Ông Lê Văn Tám nói: Tôi vốn họ Lê, chắc các cụ nhà Lê hỗ trợ tôi thôi. Tôi xuất phát từ nông thôn, tôi tin là tôi hiểu họ: Đối với họ, xin đừng có ba hoa chích chòe gì. Cái gì mà họ thấy lợi thì làm, cái gì không lợi mà bắt làm cũng chỉ như “bắt cóc bỏ đĩa”. Do vậy, công nghiệp hóa ở vùng nông thôn đâu phải chỉ dựng nhà, dựng xưởng, đưa máy móc đến là xong. Cái chính là máy móc cùng họ làm việc có đem lợi ích cho họ hay không. Vùng nguyên liệu qua bao năm vẫn không phát triển được là do người nông dân không thấy có lợi khi họ trồng mía. Trước đây Nhà nước cấp vốn, giống, phân bón để nông dân trồng mía lại không cấp trực tiếp cho họ mà phải qua “cầu”. Hợp tác xã, nhà máy hợp đồng mua sản phẩm của nông dân cũng lại qua “cầu”. Hợp tác xã. Thành ra HTX phân phối cho nông dân như thế nào là quyền của họ. Nông dân không được trực tiếp bán mía cho Nhà máy, họ không thể biết được trồng mía có lợi hay không ? Họ được bao nhiêu, hết mùa thu hoạch HTX tính điểm, tính công, mới biết.
Còn nhà máy, theo cơ chế này cũng chẳng biết giám sát tiền vốn, vật tư của mình đã cung cấp cho nông dân như thế nào ! Thành ra tiền của Nhà nước mất mà cây mía đối với người nông dân trở thành cây đắng, cây chát. Tương lai Nhà máy đứng trước ngàn cân treo sợi tóc. Nhà máy đứng vu vơ giữa vùng đồi sầm mặt lạnh. Đồi núi bạt ngàn cỏ dại, gai góc vẫn lì gan thách thức. Những hạt đường trắng tinh, ngọt lịm đang có mặt trên thị trường bây giờ còn đang là nỗi niềm trăn trở, khát khao. Không phải chỉ cây mía mà các loại cây trồng khác cũng áp đặc cho nông dân theo cơ chế quản lý này. Đó là cơ chế không có lợi cho một ai, mà còn trói buộc nhau, kìm hãm lần nhau, bóp chẹt sự sống, và cuối cùng đưa nhau đến bế tắc. Vào đầu những năm tám mươi, đời sống nông dân khắp nơi gặp nhiều khó khăn. Nhiều gia đình nông dân thiếu đói triền miên, thân xác gầy còm. Làng bản tiêu điều, trường học xơ xác. Những lão nông ra thẩn vào thờ, lo lắng cho tương lai. Không ít người nông dân ở vùng đồi Lam Sơn mong muốn cái Nhà máy đen xì kia mau chóng dời đi địa phương khác. Bởi họ nghĩ rằng, còn Nhà máy tức là họ còn phải trồng mía. Còn trồng mía, cái đói, cái nghèo còn bám theo họ.
Tại sao đất đai cũng được cày lên, lật xuống, mồ hôi cũng đổ dòng dòng mà lương thực ẫn không đủ ăn cho họ ? Phải thay đổi cách làm ra sao đây ? Và điều quan trọng nhất phải gieo lại niềm tin cho nông dân như thế nào đây. Giám đốc Lê Văn Tam hằng đêm thức trắng với nỗi suy tư dày vò… (còn nữa)
Phạm Thành – Sỹ Hào-Tuần Du Lịch- Tổng cục Du lịch-Bộ VH-TT-DL-32(84)-1999

Đường Lam Sơn chất lượng Vàng quốc gia – Phần 1

I/ – Lửa thử vàng
Có được kết quả này vào những năm gần đây, cán bộ công nhân nhà máy đã vượt qua nhiều thử thách, cam go. Chính mảnh đất này cách đây 500 năm về trước Lê Lợi đã từng phải: “Nếm mật nằm gai há phải một hai sớm tối”. Thì nay sự trở mình của một vùng đồi hoang hóa, khô cằn, đá sỏi để chiết xuất ra những hạt đường trắng tinh, ngọt lịm cũng là một quá trình “Lửa thử vàng đâu phải chỉ “một hai sớm tối…”
Ngược dòng lịch sử
Nằm ở phía Tây tỉnh Thanh Hóa, vùng đồi Lam Sơn gồm 34 xã thuộc 4 huyện vùng cao: Thọ Xuân, Triệu Sơn, Ngọc Lạc, Thường Xuân, với tổng diện tích có khả năng gieo trồng cây công nghiệp 7.000 ha. Khi đặt móng xây dựng Nhà máy đường Lam Sơn thì trên đất này đã có 3 nông trường quốc doanh: Sao Vàng, Lam Sơn và Sông âm. Các nông trường được quy hoạch cũng chủ yếu để trồng cây công nghiệp. Sau 20 năm khai phá, vào đầu năm 1980, ba nông trường chỉ mới khai hoang được 4.600 hd, riêng diện tích trồng mía chỉ mới có 320 ha, chiếm khoảng 7% diện tích đất có thể trồng trọt.
Nhằm khai thác tiềm năng vùng đồi rộng lớn này, năm 1981, Nhà nước quyết định đầu tư xây dựng nhà máy chế biến đường, với số vốn đầu tư xây dựng nhà xưởng 107 tỷ đồng, vốn mua sắm thiết bị của Pháp 15 triệu đô la. Đây là số vốn lớn của thời đó. Phải mất 4 năm xây dựng, năm 1986 những linh kiện cuối cùng của thiết bị mới được lắp đặt xong. Tiếp đó máy móc lại phải mất 2 năm chạy thử. Lúc này, diện tích trồng mía của cả vùng chỉ có 436 ha. Năm 1987, diện tích tăng lên 1520 ha gấp 3 lần năm trước. Nhưng liền đó, do cơ chế thu mua nguyên liệu không khuyến khích được người trồng mía, diện tích giảm xuống chỉ còn 960 ha, với sản lượng 26.000 tấn mía cây. Đây là thời kỳ ảm đạm nhất của Nhà máy. Nông dân bỏ mía chuyển sang trồng cây khác. Cán bộ công nhân Nhà máy không có việc làm, không có thu nhập sinh ra tiêu cực, bỏ việc. Nhà máy đứng trước nguy cơ bị giải thể, cấp trên có phương án chuyển Nhà máy đi tỉnh khác.
Chính lúc khó khăn nhất này, ông Lê Văn Tam được tỉnh Thanh Hóa điều động đến làm Giám đ6óc Nhà máy.
Những người dựng nghiệp:
Nhiều người dân dựng nghiệp:
Nhiều người dân vùng Lam Sơn cho biết: Lam Sơn là một vùng đất thiêng, nơi Lê Lợi tụ nghĩa, có Hội thề Lũng nhai nổi tiếng, nơi phát tích của hai nhà Lê; và còn đây Bia đá Vĩnh Lăng sừng sững; Còn đây hài cốt của các đấng minh Vương đang ém mình trong lòng đất… Đồi núi Lam Sơn trùng điệp, chen chúc, quay quần bên nhau dồn tụ lại thành khí thiêng sông núi…
Do vậy, sỏi đá khô cằn của vùng đồi này cũng chỉ là một nhẽ. Nhẽ khác, người đánh thức vùng đồi phải là người có tâm, có đức; phải là người biết kính xưa, yêu nơi này, thương dân như thương người ruột thịt củam ình. Cái khó chính là ở lòng người vậy. Liệu ông Lê Văn Tam và cán bộ Nhà máy có hội đủ các yếu tố nhân cách này để đưa vùng đồi sỏi đá thành vùng đất “ngọt” hay không ?
Phạm Thành – Sỹ Hào-Tuần Du Lịch- Tổng cục Du lịch-Bộ VH-TT-DL-32(84)-1999

Đó là dinh chủ tịch của tôi

Căn nhà của chủ tịch Hồ Chí Minh giống hệt những căn nhà của nông dân Việt Nam, nói rõ hơn, đó là ngôi nhà đất (maison de terre), nền bằng đất nện, mái lợp cọ, không tường. Cây cối bao quanh um tùm như rừng, chẳng mấy khi dứt tiếng chim hót, gió xào xạc trong những khóm chuối, rặng tre xanh đu đưa: Chủ tịch chỉ căn nhà đơn sơ ấy, nói: “Đó là Dinh Chủ tịch của tôi”. Trên bàn làm việc từng chồng báo mới xếp bên cái máy chữ cũ kỹ.
Một cái chiếu trải thẳng xuống nền, đó là chỗ ngủ của Chủ tịch, xung quanh sách nhiều vô kể. Chủ tịch là người thông thạo tiếng Nga, tôi ngạc nhiên hỏi: “Thưa Chủ tịch, khi nghiên cứu loại ngôn ngữ này người có cảm thấy khó không?” Chủ tịch mỉm cười, trả lời: “Một người cách mạng nhất thiết phải biết tiếng nói của Lê – Nin”.
“Thưa Chủ tịch, mỗi ngày Người làm việc mấy tiếng?” Bác trả lời: “Tôi thức dậy cùng tiếng chim hót, và chỉ đi nàm khi bầu trời nhạt sao”. Chúng tôi vinh dự được gặp Hồ Chủ Tịch nhiều lần và nhận ra rằng Chủ tịch là con người giấu ý chí và trẻ trung, tuy Người đã bước sang tuổi 64. Với khuôn mặt xương xương, rám nắng nên dù cao tuổi nhưng trông Người rất tráng kiện; đôi mắt sáng và hiền từ có sức thu hút nugời đối thoại. Nhưng cũng chính đôi mắt ấy thường không giấu được nỗi buồn mỗi khi Người nghe nói đến những mất mát đau thương của đồng bào mình trước sự tàn bạn của bọn thực dân xâm lược…
Mãn Đông
(Trích dịch hồi ký của Renan Camen trong Vietnam en mareche)
Đôi câu đối ở đình Tân Trào
Một lần được đến thăm khu di tích lịch sử Tân Trào, tôi thật bất ngờ khi thấy ở trên cao, sát mái, nơi hai đầu cột gỗ lim đối nhau có một câu đối. Đó chỉ là hai tấm gỗ mộc dài khoảng hơn một mét, chẳng vàng son, cũng không hoa văn chạm trổ, có hai hàng chữ khắc nổi mộc mạc:
Chính trực thông minh thiên tải Thánh
m phù mặc tướng nhất phương dân
Chữ Hán hàm ý rất sâu, người xưa hay nói là “thâm thúy”. Tôi đã đe câu đối này đến trao đổi với một vị túc nho. Cụ cho tôi biết có thể hiểu nội dung đôi câu đối đó là: Chân chính, ngay thẳng, thông minh, sáng suốt… đó là cái đức ngàn năm của Thánh Đế phù trợ, cứu giúp một cách thầm lặng cho nhân dân một vùng… Vị túc nho bàn thêm: “Thánh” mà nhân dân ngưỡng mộ cũng chẳng phải là một vị thần có phép biến hóa thần thông, hô mưa gọi gió… Đó cũng chỉ là một con người. Có điều, con người ấy có tài, có đức, hết lòng vì người khác. Người ấy đã đặt cái vui, cái buồn, cái sướng, cái khổ của người khác lên trên cái thế giới cỏn con của riêng mình.
Khi vị túc nho được tôi tiết lộ cho biết đôi câu đối này tôi đã ghi lại được ở đỉnh Tân Trào, cụ phấn chấn thốt lên: “Phải chăng ở đây có một sự tiền định ? Cụ Hồ là một lãnh tụ vĩ đại vì nước vì dân, hy sinh cả cuộc đời cho độc lập tự do của Tổ quốc, hạnh phúc ấm no của dân tộc. Cụ Hồ sống giản dị, chẳng vàng son. Nhân dân cả nước ghi nhớ công ơn trời biển của Người, tôn vinh cụ Hồ là “Cha già dân tộc”, là “Thánh sống”. Tôi nghĩ không có tiền định thì làm gì có những sự kiện lịch sử đã xảy ra ở Tân Trào, mở đầu kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam, kết thúc chuỗi ngày tối tăm nô lệ, vươn lên làm người với đầy đủ tư cách của công dân một nước độc lập.
Qua tìm hiểu tôi được biết đôi câu đối này đã ra đời với mái đình Tân Trào từ trước Cách mạng Tháng Tám ngót nửa thế kỷ. Ngẫm những lời nói của vị túc nho, những sự kiện đã xảy ra ở khu di tích lịch sử Tân Trào tôi cũng thấy đúng không phải là chuyện ngẫu nhiên. Bác Hồ từng nhiều lần nói ở cõi đời này hạnh phúc nhất là được phục vụ nhân dân. Bác sống giản dị, chẳng vàng son. Một đôi câu đối mộc mạc mà chứa chan ý nghĩa sâu xa.
Cảnh ấy, Người ấy… sao khéo hẹn hò.
Phó Đức An-Tuần Du lịch- Tổng cục Du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Những khẳng định trước tấm huy chương vàng Sea Games 20

Hai trận thắng, một trận hòa được 7 điểm. Đội tuyển bóng đá Việt Nam (ĐTBĐVN) ung dung bước vào vòng bán kết của Sea Games 20 mà không cần chờ kết quả trận gặp Philipines chiều 8-8. So với “căn bệnh” khởi đầu thường khó khăn ở nhiều giải trước, đây là một bất ngờ nhưng cũng là tất yếu. Vẫn còn sớm, nhưng với bước tiến mới và những thể hiện mới qua 3 trận đấu vừa qua, vẫn cho phép chúng ta có quyền hy vọng tới một tấm huy chương vàng tại kỳ Sea Games cuối cùng của thế kỷ 20.
Cội nguồn của hy vọng, không gì khác, bắt nguồn từ những khẳng định qua 3 trận đấu mà mỗi cuộc so tài là một ghi nhận tiến bộ khác nhau về khả năng ghi bàn, ý chiến chiến thắng, về tổ chức chiến thuật khoa học.
Trận đầu, Việt Nam hạ Lào 9 – 0. Một trận đấu có tới 2 cầu thủ lập kỷ lục ghi bàn (Huỳnh Đức 4 bàn, Sỹ Hùng 3 bàn), trong đó có những pha ghi bàn mang đẳng cấp quốc tế như quả sút đập xà ngang đội vào lưới của Huỳnh Đức. Tỷ số đậm là kết quả tất yếu của một độ chênh khá lớn mà như HLV đội tuyển Lào Moumany Vangchay thẳng thắn thừa nhận sau trận đấu: “… Chúng tôi không thể bì được họ (ĐTBĐVN) về mặt thể lực, kỹ thuật, sức chịu đựng, tốc độ và kinh nghiệm…”.
Ngày 3 – 8, Việt Nam hạ Myanmar 2 – 0 trong một trận đấu quyết liệt giữa hai đối thủ trực tiếp trên con đường tranh chiếc vé vào bán kết. Sau 75 phút giằng co và kiên trì, ý chí chiến thắng của một lối đá hợp lý đã bừng sáng đè bẹp lối đá thô bạo và thiếu mạch lạc. Trận cầu tiếp tục đánh dấu phong độ cao của Huỳnh Đức, Việt Hoàng, ghi nhận ý chí đột phá của Hồng Sơn và sự trở lại “có duyên” của Phương Nam.
Trận hòa Thái Lan 0 – 0 chiều 5-6-1999 là kết quả của một đấu pháp khoa học được triển khai chặt chẽ trong suốt hơn 90 phút. Vắng Hồng Sơn và Việt Hoàng, hai trụ cột trong hàng tiền vệ, nhưng do liên tục di chuyển, bọc lót, nên chiến thuật “phòng ngự chặt, phản công nhanh” của ĐTBĐVN đã vô hiệu hóa mọi đợt tấn công của các danh thủ Thái Lan – một đội được đánh giá mạnh nhất khu vực. Hơn thế, với một thế trận ngang ngửa, nhiều lúc có phần lấn sân đã chứng minh cho một “độ dính” nhuần nhuyễn cao giữa các lớp cầu thủ trong đội tuyển ĐTBĐVN.
Ngoài hàng tiền đạo sắc sảo hiệu số bàn thắng – thua: 11 – 0, là lời khẳng định về khả năng phòng ngự của hàng thủ Việt Nam, một hàng thủ được giới chuyên môn đánh giá mạnh nhất nhì Đông Nam Á. Một pha tung người đẩy bóng trong trận gặp Myanmar, pha bắt gọn quả sút ở cự lý chưa đầy 3 mét trong trận gặp Thái Lan và hàng chục lần ra ôm gọn những đường bóng bổng của thủ môn Trần Minh Quang; một quả xả thân cắt bóng hợp lý trong chân tiền đạo Thái Lan của Đức Thắng; “tam giác thép” Đỗ Khải – Tiến Dũng – Như Thuần với những pha vô hiệu hóa các tiền đạo nổi tiếng của Thái Lan v.v… sẽ là những hình ảnh đẹp đọng mãi trong lòng người hâm mộ.
ĐTBĐVN đã khẳng định được những bước tiến mới về tinh thần thi đấu, ý thức chấp hành chiến thuật, tinh thần đoàn kết để làm nản ý chí chiến thắng mới. Điều đó cho phép hy vọng khi sự ổn định này được giữ vững thì những trận đấu trên con đường tiến vào chung kết sắp tới không phải là không giải quyết được.
Dự đoán vẫn chỉ là dự đoán. Duy có điều chắc chắn rằng, dù kết quả có thế nào ĐTBĐVN vẫn rất xứng đáng được nhận một tấm huy chương vàng của những người hâm mộ ghi nhận cho bước tiến mới của mình.
Đông Anh – Tuần Du lịch – 1999

Khởi sắc du lịch Hải Phòng

Trong sáu tháng đầu năm 1999, du lịch Hải Phòng được coi là có những bước tăng trưởng đáng khích lệ.
Trước hết, nói về lượng khách tới Hải Phòng, sáu tháng đầu năm nay đạt 415.000 lượt khách, tăng so với cùng kỳ năm ngoái là 53,13%. Trong đó, khách nội địa đạt 525.000, khách quốc tế đạt 65.000 (tăng 33,6%). Ngày lưu trú đạt xấp xỉ 2ngày/khách. Lượng khách tăng đã làm cho khả năng khai thác buồng phòng của khách sạn được cải thiện, bình quân đạt 60%. Trong đó có một số khách sạn đạt khá như khách sạn Hữu Nghị đạt 75%.
Có được những bước phát triển khả quan như vậy, bên cạnh sự cải thiện khá đồng bộ của hệ thống cơ sở hạ tầng thành phố cảng, nỗ lực tôn tạo cảnh quan của ngành văn hóa…Một nguyên nhân khác rất quan trọng là ngành du lịch Hải Phòng đã có những nổ lực khá toàn diện ở tất cả các khâu: kinh doanh lữ hành, vận chuyển khách, và kinh doanh khách sạn.
Trước hết nói về hoạt động kinh doanh lữ hành, các công ty du lịch ở Hải Phòng đã mở một loại các chi nhánh để khai thác và đưa đón khách, đặc biệt là ở các cửa khẩu biên giới phía Bắc để đưa đón khách Trung Quốc và khách quốc tế từ Trung Quốc vào. Trong sáu tháng đầu năm đã có 9 tàu du lịch quốc tế với gần 2000 lượt khách cập cảng Hải Phòng (tăng 41%).
Hoạt động vận chuyển khách cũng đã có những bước phát triển vượt bậc, trước hết đó là hệ thống đường bộ, sau khi đường 5 hoàn thành, du khách có thể từ Hà Nội tới Hải Phòng chỉ mất hai giờ. Hiện nay, toàn thành phố có 292 ô tô vận chuyển khách. Tàu hỏa Hà Nội – Hải Phòng đã tăng thêm một chuyến và rút ngắn thời gian chạy tàu xuống còn 1 giờ 45 phút. Ngoài ra thành phố còn có 22 tàu thủy được cấp giấy phép đủ điều kiện vận chuyển khách du lịch, trong đó có một đôi tàu chuyên chạy tuyến Hải Phòng – Cát Bà, du khách có thể từ Hải Phòng tới hòn đảo to và đẹp nhất vịnh Hạ Long này trong hai giờ. Chất lượng phương tiện vận chuyển cũng đang được nâng cao, trình độ giao tiếp, phục vụ trên phương tiện cũng đã được cải thiện trông thấy.
Hoạt động kinh doanh khách sạn ở Hải Phòng được coi là sôi động hơn cả. Sáu tháng đầu năm 1999, thành phố có thêm 9 khách sạn với hơn 300 phòng đã được đưa vào khai thác phục vụ khách du lịch. Đáng chú ý là quần thể khách sạn Harbourbview Hotel với 127 buồng đạt tiêu chuẩn quốc tế 4 sao, khách sạn Tray Hotel 76 phòng (3 sao) cũng vừa mới đưa vào hoạt động.
Để chuẩn bị cho năm 2000 “Việt Nam, điểm đến của thiên niên kỷ mới”, Hải Phòng đang nỗ lực cải thiện mọi điều kiện để đưa đón khách du lịch một cách tốt hơn. Ngành du lịch cũng đang cùng với Viện Nghiên cứu phát triển du lịch và UBND thị xã Đồ Sơn hoàn thành chi tiết phát triển khu du lịch Đồ Sơn, tham gia xây dựng quy hoạch tổng thể và chi tiết phát triển du lịch khu vực Hạ Long – Cát Bà – Đồ Sơn. Ngành cũng đang xây dựng dự án khả thi đầu tư nơi vui chơi giải trí, thể thao. Xây dựng tuyến đường thủy Đồ Sơn – Cát Bà – Hạ Long…Cùng với sự phục hồi của nền kinh tế của các nước khu vực, hy vọng rằng, năm tới, ngành du lịch Hải Phòng sẽ có một mùa du lịch bội thu.
Phan Thế Hải – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(79)1999

Bộ Y tế đang dự thảo một kế hoạch thu hút các bác sĩ giỏi từ Nhật Bản

Thái Lan: Cơ quan du lịch Thái Lan cộng tác với Bộ Thương mại, Bộ Y tế đang dự thảo một kế hoạch thu hút các bác sĩ giỏi từ Nhật Bản, Châu Âu, Mỹ sau khi về hưu tại nước họ, đến Thái Lan vừa nghỉ tuổi già vừa chăm lo bảo vệ sức khỏe tại các bệnh viện, khu du lịch nhằm tạo ra sự tín nhiệm cho các du khách nước ngoài đến Thái Lan. Theo Bộ Y tế, trong cuộc khủng hoảng kinh tế 2 năm qua, việc chăm sóc y tế phần nào bị ảnh hưởng.
Trung Quốc: Trung tuần tháng 9/99, Trung Quốc chính thức đưa vào hoạt động sân bay quốc tế Phố Đông tại Thượng Hải. Sân bay có đủ khả năng tiếp nhận các loại máy bay chở khách cỡ lớn nhất hiện nay trên thế giới như B 767, MD. 11, và các khu dịch vụ cho phép đưa đón 15 triệu khách/năm. Đây là sân bay quốc tế thứ hai ở Thượng Hải, sau sân bay Hồng Kiều.
Một báo cáo mới của Tổ chức Du lịch thế giới (WTO) cho biết năm 1998, Trung Quốc đứng thứ 6 thế giới về thu hút du khách bên ngoài. Nhưng đến năm 2020, Trung Quốc sẽ vượt lên đứng đầu thế giới, thay thế vị trí hiện nay của Pháp, với khoảng 130 triệu du khách đến thăm/năm.
Ma Cau: Chính quyền khu hành chính đặc biệt Ma Cau (Ma Cau SAR) đã phát hành loại hộ chiếu mới để sử dụng cho các công dân của mình sau khi lãnh địa này được trả về Trung Quốc cuối năm nay. Hộ chiếu mới được in bằng ba thứ tiếng: Trung Quốc, Anh và Bồ Đào Nha, có giá trị 10 năm đối với người lớn và 5 năm với trẻ em dưới 18 tuổi. Từ 20/12/1999, hộ chiếu mới chính thức được sử dụng, mặc dù đến đêm 31/12/1999, Ma Cau mới trở về với Trung Quốc.
Mỹ: Tập đoàn khách sạn Hilton của Mỹ nói đang thảo luận để mua tập đoàn khách sạn Promus, cũng của Mỹ với giá khoảng 2,4 tỷ USD với hy vọng giảm bớt chi phí, cắt giảm giá thuê phòng để thu hút du khách. Năm 1998, doanh thu của Hilton Hotel là 1,77 tỷ USD, của Promus là 1,1 tỷ USD. Cả hai tập đoàn này đều nằm trong Top Ten các khách sạn lớn ở Mỹ.
Hồng Kông: Trong 3 ngày 1, 2 và 3/9/1999, Hội chợ Du lịch quốc tế Châu Á 1999 đã diễn ra tại Trung tâm hội chợ triển lãm Hồng Kông với sự tham dự của 418 công ty du lịch, lữ hành đến từ 39 nước và khu vực trên thế giới. Hội chợ do Hội Du lịch Berlin và Liên hiệp Thông tin Châu Á phối hợp tổ chức với sự tài trợ của Tổ chức Du lịch thế giới (WTO), Hội Vận tải và Du lịch thế giới (WTTC), Hiệp hội Hàng không quốc tế (LATA), Hiệp hội khách sạn và Ăn uống quốc tế (IH&RA), Hội Thương nghiệp du lịch quốc tế (UTAA).
ASEAN: Diễn đàn Du lịch ASEAN 2000 với chủ đề “Hướng tới nền du lịch ASEAN không có ngăn cách” sẽ được tổ cức tại Bangkok vào đầu năm tới. Hội nghị sẽ có sự góp mặt của 10 nước thành viên ASEAN nhằm bàn về các biện pháp để phát huy tối đa tiềm năng du lịch của khu vực.
N.K – Tuần du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999