Điểm mới của du lịch cần thơ

Hiện nay, trong cả nước, nhiều đơn vị, cá nhân tham gia khai thác kinh tế du lịch. Nhưng nếu nói về khâu tổ chức nhân sự – quản trị kinh doanh, theo quy trình tổ chức của gia đình thì chỉ đếm trên đầu ngón tay. Tuy nhiên, trong con số không nhiều đó đã từng có những gia đình làm du lịch khá thành công và đáng ghi nhận. Điển hình như “Đại gia đình” vợ chồng anh Tuấn – chị Nga ở thành phố Cần Thơ. Đầu tư cơ sở vật chất ở khách sạn Phương Đông theo tiêu chuẩn 3 sao, cũng là hàm ý sâu xa của gia đình anh Tuấn – chị Nga, muốn nói lên tâm huyết của mình trong sự lựa chọn mục tiêu chiến lược, xây dựng và phát triển du lịch bền vững… Anh Tuấn – chị Nga cho biết, khách sạn Phương Đông được khởi công xây dựng vào trung tuần tháng 3/1999, có tổng diện tích sử dụng là 2.500m2, kinh phí đầu tư khoảng 10 tỷ đồng. Khách sạn Phương Đông gồm 50 phòng ngủ, đi kèm với các dịch vụ: nhà hàng 500 chỗ, phòng họp, phòng karaoke, phòng massage sauna, café dã ngoại, lầu cảnh, phòng thư giãn, shop thẩm mỹ và các dịch vụ khác… Sau 15 tháng thi công, tháng 6/2000 khách sạn đã hoàn thành và đi vào hoạt động. Ngay những ngày đầu kinh doanh, khách sạn Phương Đông đã đem lại một kết quả không ngờ, đúng hơn là rất khả quan: công suất phòng bình quân đạt từ 55% – 65%.
Anh Tuấn cho biết thêm: về mặt pháp lý, khách sạn Phương Đông trực thuộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Phượng Trân, nhưng trên thực tế, hệ thống quản lý thuộc gia đình điều hành. Vợ anh là Chủ tịch hội đồng quản trị, anh là Tổng giám đốc, con trai đầu của anh là Giám đốc khách sạn Phương Đông; các con thứ và cháu giữ vị trí điều hành các phòng ban. Nói chung, cả gia đình cùng tham gia khai thác kinh tế du lịch.
Chị Nga – vợ anh Tuấn bật mí cho biết: ngoài lợi nhuận, điều chị tâm đắc nhất hiện nay là nguồn khách đến khách sạn Phương Đông. Khách nghỉ ngơi, thưởng thức ẩm thực hoặc nhận đặt tổ chức các buổi hội thảo, hội nghị, tiệc cưới, sinh nhật… hay vui chơi giải trí qua các dịch vụ, hầu hết đều hài lòng và thoải mái, trong môi trường văn hóa lành mạnh. Đặc biệt café dã ngoại lầu cảnh “lầu 7” hiện nay trở thành địa chỉ quen thuộc và được xem là một điểm hẹn của các bạn trẻ ở Thành phố Cần Thơ muốn tìm một chút hương xưa của trời đêm Tây Đô ở độ cao khoảng 20m…
Dạo quanh một vòng khách sạn Phương Đông, càng thấy ở đây bố cục rất hài hòa và thanh lịch, trang nhã, toát lên sự quý phái, sang trọng. Điều đáng ghi nhận hơn nữa là hầu hết đội ngũ chuyên môn đều qua trường lớp nghiệp vụ và có hiểu biết nhất định về du lịch. Hòa nhập với thị trường kinh tế chung của cả nước nói chung, ngành Du lịch nói riêng. Khách sạn Phương Đông của gia đình vợ chồng anh Tuấn – chị Nga thật sự đã chọn cho mình một thị phần xứng đáng trong sự nghiệp phát triển du lịch Việt Nam hiện nay, với nhiều triển vọng trên con đường thực hiện những định hướng của Đảng và chủ trương của Nhà nước về việc xây dựng và phát triển du lịch…
Lê Nguyễn – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 15(180)2001

Ché quý vật gia bảo – Phần 2

Do những chiếc ché quý như vậy nên ngày xưa những nhà giàu thường tranh nhau mua ché. Ché càng xưa càng quý càng đắt. Nếu ở đồng bằng người dân mỗi khi tiết kiệm được món tiền thường đem mua vàng để dành thì ở miền núi, kiếm được tiền, họ chỉ đem mua ché. Hôm nay, không còn chuyện tranh nhau mua ché. Nhưng những gia đình nào đã mua được ché quý từ xưa đều rất tự hào, hãnh diện. Song không phải ai cũng hiểu điều này. Những chiếc ché lâu đời có quá khứ tuyệt với đó, dưới con mắt người thường chỉ là một vật không đáng giá. Trong khi đó giá trị thực tiễn của những chiếc ché quý có khi tương đương với một thớt voi to ở Đắc Lắc. Đặc biệt những chiếc ché có nguồn gốc hay huyền thoại về nó mê ly thì giá trị lên tới 40 – 50 triệu đồng.
Trong số chiếc ché chứa đựng yếu tố huyền thoại mà tôi được biết có những tình tiết ly kỳ hấp dẫn, đôi khi thấy rung rợn vì chứa màu sắc ma quái phải kể đến ché Hơ Tôk H’ Dang. Chủ chiếc ché này là ông KLiu Jang Pei Brell ỏ Pleiku.
Huyền thoại về ché Hơ Tôk H’ Dang là thế này: Ngày xưa (chẳng rõ tháng nào, năm nào) có một người đi săn, song gần hết buổi chẳng gặp con thú nào. Đang lúc buồn rầu, chợt nhìn thấy một bầy hươu, anh liền giương cung bắn, nhưng bắn 4 – 5 mũi liền đều trượt. Nghĩ rằng bầy hươu có phép lạ gì, hoặc chúng là ma quỷ hiện lên trêu ngươi, hoawck chúng là đàn tiên hay thần thánh giáng thế để thử tài và lòng kiên nhẫn của mình nên anh nghĩ cách trổ tài. Nhớ lại ngày trước đi săn với bố, khi muốn kiểm tra con thú thật hay giả ông thường rút một sợi dây ở khố buộc vào mũi tên bắn đi rất hiệu nghiệm. Không chần chừ, anh thợ săn, làm theo luôn cách này. Quả nhiên bắn trúng một hươu. Con vật ngã xuống. Anh chạy vội tới bụng mừng thầm vì kết quả đi săn . Song tới nơi, chẳng thấy hươu đâu, chỉ thấy mũi tên buộc sợi chỉ rút ra từ cái khố đỏ của mình đang cắm một chiếc ché còn chiếc ché thù chảy máu. Chàng đi săn này là người Sé dang (Gia Lai – Kon Tum) cho nên những người sau mua lại liền đặt tên chiếc ché là Hơ – Tôk H’ Dang.
Ché Hơ Tôk H; Dangcao 80 cm, màu vàng sậm, 7 tai, mình trơn, bông chim. Một người đã đem cả một chuồng trâu 20 con để đổi lấy chiếc ché này. Đang chú ý trong những chiếc ché quý ở cao nguyên, ngoài những giá trị về thương mại, văn hóa, còn có nhiều ché có giá trị về giáo dục, lịch sử chống ngoại xâm, nhắc nhở con cháu uống nước hãy nhớ nguồn. Ché Ran Dinh Dông là loại ché đó.
Bà con dân tộc kể rằng: Ngày xưa (lại cũng ngày xưa) tại Kom tum có người anh hùng tên là Giông và em là Giơ – cả hai lập được nhiều thành tích trong chiến đấu nên được công chúa Bok Glai lấy ché Ran Dinh Dông rót rượu đãi. Vì vậy, ché Ran Dinh Dông thuộc dòng họ ché quý tộc chỉ được đem dùng mỗi khi có khách đặc biệt. Ché Ran Dinh Dông thì cao khoảng 90 cm, có màu vàng sậm được chạm hình rồng bên hông, gợn sóng lăn tăn. Tính đến nay tuổi ché đã trên 100 năm.
30 loại ché quý là 30 câu chuyện kỳ thú. Mỗi câu chuyện tuy có đó dài, ngắn, đậm, nhạt khác nhau nhưng đều có chung một điểm: ca ngợi những chiếc ché quý này hiện còn có ở Tây Nguyên không nhiều và đang có nguy cơ bị thương mại hóa cao độ. Những quy định ngặt nghèo của tổ tiên , nhưng răn dạy mang tính cảnh báo của cha ông đối với thế hệ hiện tại không còn linh nghiệm như trước. Cuộc sống của đồng bào ở miền sơn cước vẫn còn đầy cảnh buồn. Không ít gia đình, bản mường chưa thoát được khỏi chuyện lo lắng vì miếng ăn cái mặc. Do đó, nếu có khách tới trả được, giá họ sẵn sang bán ché để giải quyết khó khăn trong gia đình. Vì vậy, ché quí ở Tây Nguyên đang và sẽ còn trôi nổi tới những vùng đất khác nhau.
Nguyễn Thị Mỹ Hoài – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Ché quý vật gia bảo – Phần 1

Trong mỗi gia đình, bản mường dòng họ của đồng bào các dân tộc đều có vật gia bảo hoặc nhiều vật gia bảo. Dĩ nhiên, trong những vật gia bảo cũng được phân loại đánh giá. Đôi khi có thể mua bán đổi chác được.
Ai đã từng một lần lên miền núi, được uống rượu cần, chắc phải biết chiếc bình đựng rượu và không thể không ngắm nghía nó. Đồng bào gọi những chiếc bình đựng rượu cần này là “ché”,
Ché không đơn giản chỉ có công dụng đựng rượu, nó còn là gia sản quí của đồng bào miền núi được liệt vào vật gia bảo. Nhà nào gọi là giàu, ngoài có chiêng, phèn, là còn phải có ché. Những chiếc ché thường được bày bán ở chợ hoặc các cửa hàng không phải là loại chè quý. Ché quý bao giờ cũng được để trong nhà và ít khi đem bán. Khi có khách đặc biệt hoặc trong gia đình bản mường có sự kiện quan trọng cúng lễ, đám cưới đám tang dựng nhà bà con mới đem những chiếc “ché” đựng rượu này ra (nhiều gia đình có 3 – 4 cái).
Tác giả P. Elafont, người Pháp có làm một hợp kê được 30 loại ché quý khác nhau. Ché Wênh cao 95 – 100 cm (đồng bào tính chiều cao bằng gang tay), có 5 tai, mầu nâu, hình nổi giữa hông. Theo gia chủ kể lại thì “ché” Wênh đã thọ được 2 tuổi đời chủ nếu tính nình quân mỗi chủ sống được 60 năm thì “ché” Wênh đã tồn tại được 120 năm. “Ché” W ênh vốn từ bên Lào, nằm trong tay một vị chủ có số phận không may, phải bán đi để tranh trải cuộc sống. Nghe đâu nó giá trị bằng một con trâu. Còn bây giờ gia chủ cho biết có người đã trả tiền giá trị bằng 2 con trâu lớn (khoảng 4 triệu đồng). nhưng ông không bán.
Ché Kian Dông giá trị hơn ché Wênh – Nó cao 135 – 140 cm (từ đây trở đi tôi lấy số đo một gang bằng 30 – 32 cm) có 8 tai, da nâu, mình thon. Điều đáng chú ý ở ché Klan Dông là bên hông có hình rồng nổi. Và tuổi đời của nó đã được chứng kiến cuộc đời chìm nổi của ba gia chủ. Số kiếp nó cũng bị quăng quật từ đất Lào., trải qua máy chục năm lăn lóc, qua tay 2 gia chủ, cuối cùng nó tạm yên thân ở đất Việt Nam. Tôi hỏi giá chiếc ché Klan Dông, gia chủ nói không biết, vì ông không bán nên chẳng có ai đến mua, nhưng áng chừng cũng phải cớ 5.5 – 6 triệu đồng (3 trâu).
Ché Yă Wong cũng có giá trị bằng ba con trâu. Nhưng sự bôn ba của nó hơn đứt ché Klan và ché W ênh.
Ché đã qua 4 đời chủ, từ Thái Lan vượt sông, núi, lăn bò qua biên giới đến Việt Nam rồi trụ lại ở đất rừng Tây Nguyên. Chẳng biết sau này nó còn bị phiêu dạt những đâu, chứng kiến được bao nhiêu đời chủ bị thời cuộc, số mệnh tung lên quật xuống, còn hiện tại, có lẽ hết thế kỷ này nó vẫn há miệng, phình hông, vươn đoạn cổ nhỏ, dỏng 5 chiếc tai, kiễng chân nâng cái thân chỉ có khoảng 100 cm sống với miền sơn cước lạ lẫm trùng điệp.
Ông Row p ă ở Kon Rơ Bang, Gia Lai, Kon Tum hiện đang có một chiếc ché giá trị khoảng 10 triệu đồng. Ché này có tên là Hơ Tôk Rang pia, cao khoảng 90 cm. màu nâu, có 6 tai, phái trên (gần giáp miệng) có 5 bông chưa được khắc nổi, còn giữa hông có hình rồng nổi. Tuy mới trải qua 3 đời chủ, nhưng Ché Hơ Tôk Rang pia lại có cái tuyệt vời mà Ché Y ă Wong, Klan Dông W ênh không thể có. Ông Rơ pă cho biết mặc dù chỉ có một thứ rượu đồ vào ché song khi uống mỗi người đều thấy một thứ rượu khác nhau. Chuyện khó hiểu này đã trở thành huyền thoại. Rất nhiều người đã bỏ công, tìm hiểu cố khám phá điều bí ẩn trên nhưng đều lắc đầu , chịu thua sự sáng tạo của người xưa. Có người do bất lực trước thần bí của ché đã khẳng định ché Hơ Tôk Rang pia không phải do người nặn nung mà do thánh phật hóa ra ném xuống trần gian. Bằng chứng là lời kể của bà con – dĩ nhiên theo truyền thuyết – ché Hơ Tôk Rang pia còn canh giữ được nhà tựa như thần giữ cửa, không những thế mỗi gia đình có việc gì quan trọng, trong ché lịa có tiếng kêu phát ra, báo cho chủ nhà.
Nguyễn Thị Mỹ Hoài – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Đêm giao thừa ở Nha Trang

Có lần đọc được trong “Xứ Trầm Hương” của Quách Tấn, nhà thơ tiền bối đã tả cảnh đêm 30 Tết ở Tháp Bà Nha Trang với hàng vạn con đom đóm bay quanh Tháp, tạo nên một không gian diệu kỳ của ánh sáng trộn lẫn với mùi hương trầm do thiện nam tín nữ đi cúng bái đốt lên. Đêm 30 Tết của vài chục năm trước, tôi vẫn thường theo bà nội và cô năm “xuất hành”. Khi tiếng pháo giao thừa tạm ngớt, rồi hòa vào dòng người xuôi ngược đi lễ đầu năm của chùa Tỉnh Hội (nay gọi là chùa Long Sơn) rồi sau đó vượt qua hai chiếc cầu Hà Ra và Xóm Bóng khi ấy chưa xây dựng lại, còn chặn đèn đỏ lại để tránh kẹt xe.
Khi ấy, để lấy phước đầu năm, mọi người đi lễ thường đổi thành tiền lẻ để phát chẩn cho hành khất ngồi xếp dọc hai bên chùa. Đêm ba mươi leo lên trên 100 bậc tam cấp sau lưng chùa Long Sơn, lên đỉnh chùa Đồi Trại Thủy đến Kim Thân Phật Tổ, rồi theo con đường mòn trong đêm tối băng qua tận bên kia chùa Hải Đức cũng là điều kỳ diệu.
Từ đêm Ba mươi kéo dài cho đến mùng 7 tết Tháp Bà luôn luôn đông người đến hội. Đom đóm của thi sĩ Quách Tấn ngày xưa giờ đây đã tản lạc do quanh vùng chân Tháp dân cư đến sinh sống nhiều, cây cỏ đã bị phát hoang nên nên loài côn trùng này không còn chỗ để sinh tồn. Nhưng như thói quen những con đom đóm ít ỏi còn sót lại cho tới giao thừa vẫn tụ tập về Tháp như lời hẹn hò nghìn xưa không thể nào quên được. Tháp Bà giờ đây tương đối rộng rãi và hiện đang được trùng tu. Nhưng khách thập phương tìm đến đốt nhang trong Tháp chính, nơi thờ Thiên Y Thánh Mẫu trong đêm nhiều đến nỗi người giữ nhiệm vụ canh cửa phải thường xuyên rút bớt chúng đi để đem ra ngoài. Cửa Tháp nhỏ, chỉ hai người chen lọt và phải bỏ dép guốc ra ngoài (thế là có thêm người giữ dép giầy) khói từ những cây nhang nhỏ bé tỏa ra đến nỗi chỉ cần ở lâu trong lòng Tháp một chút thôi là muốn ngộp thở ngay. Trong lòng tháp một màu khói đục tỏa ra tận bên ngoài.
Gần giao thừa thì lượng người tỏa ra đường phố càng đông. Cái thú lang thang ấy có trong lòng người Nha Trang như một thói quen. Cứ ra đường vòng hết phố lớn đến phố nhỏ, cuối cùng thì cho xe đi thong thả dọc theo đường Trần Phú mà ngắm người như mình. Trước kia tình trạng hái lộc đầu năm khiến cho cây xanh dọc biển phải “tơi tả” trong đêm 30, còn hiện tại thì thời khắc thiêng liêng năm đó, có những chú công an canh giữ. Công ty công viên cây xanh đã có những điểm bán lộc trong đêm giao thừa. Lộc có chỉ khi là những cành lá xà cừ, có khi là một cây mía non kèm theo chữ “Chúc mừng năm mới”.
Thường thì người bán hàng đêm 30 cũng thức luôn cho đến rạng sáng ngày mồng 1 Tết.Ngay trước ngõ ra vào chợ đầm khu vực dọc bãi biển là những quán giao thừa như thế. Những cô chủ quán “bán giao thừa” cứ ngồi cắn hạt dưa kêu tí tách giết thời gian. Khách kêu trứng vịt lộn, xị rượu nếp uống vào uống cho lòng lâng lâng cùng năm mới đến. Khách của những hàng quán như thế đôi khi chính là những bác tài xích lô mong kím cuốc xe đầu năm lấy hên cho 365 ngày sắp tới, đó cũng có thể là anh chạy xe ôm hay là người công nhân vệ sinh có nhiệm vụ làm sạch đường phố để đón chào năm mới.
Không hẹn mà thành. Đêm giao thừa bỗng nổi lên những khu vực bán bong bóng cho khách nhàn du. Trước kia chỉ có vài tháng ở Trung tâm thông tin cổ động, còn giờ đây thì ngay cả sáu Quang Trung mới mở, khu vực bãi biển đoạn cuối đường Nguyễn Thị Minh Khai đã trở nên rực rỡ bởi hàng trăm xe bong bóng. Với 10.000 đ một chiếc bóng bay thật to, chẳng ai lại không muốn đem lại chất đỏ về cho gia đình.
Rồi phố sẽ vắng dần người đi qua. Đêm giao thừa cuộn mình để sáng mồng 1 tết rộn ràng người dạo phố đón mùa xuân.
Tiệm ăn … vàng
Ông selechi Ohmura, chủ một tiệm ăn ở ngoại ô Tookyo (Nhật Bản) vốn là một bậc thầy trong nghề bếp núc cổ truyền của nước Nhật, đồng thời còn là một nhà tâm lý học. Ông biết thế giới từng có chuyện người này ăn hết mấy cái thìa, người kia ăn hết mấy cái xe đạp (đã được ghi vào sách Guiness). Vậy có thể chế biến các món ăn pha trộn… vàng được lắm chứ?
Và, thế là tiệm ăn của ông là nơi đầu tiên chế biến các món ăn chứa kim loại quý hiếm: Vàng!
Được biết một bát cháo có trộn ít bột vàng giá bán tới … 25 USD.
Khuê Việt Trường – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Bao giờ Sơn Trà thức giấc?

Sơn Trà trong quá khứ
Với chiều dài hơn 15km, định cao nhất 696 mét cùng nhiều đỉnh cao 500 mét, từ lâu, bán đảo Sơn Trà đã trở thành bức bình phong che chắn cho Đà Nẵng. Các nhà hàng hải phương Tây thế kỷ 18 đã đánh giá cảng Đà Nẵng là hải cảng đẹp và an lành nhất thế giới. Khi tiếng súng xâm lược đầu tiên của thực dân phá tấn công vào vịnh Đà Nẵng năm 1858, Sơn Trà trở thành tiền đồn của quân và dân ta đương đầu với giặc để giữ gìn bờ cõi. Nhưng ngôi mộ lính viễn chinh Tây phương nằm tại nghĩa địa I – pha nho trên núi đã để lại vết tích của những cuộc giao tranh đẫm máu của quân dân ta với liên quân Pháp – Tây Ban Nha. Khi Đà Nẵng trở thành nhượng địa của Pháp, thực dân bắt đầu xây dựng nơi đây thành một căn cứ quân sự; mở đường lên núi, mở cảng Tiên Sa. Thời chống Mỹ, Sơn Trà một lần nữ được Mỹ xây dựng thành một căn cứ quân sự đồ sộ với đầy đủ đường lên núi, sân bay trực thăng, đài quan sát khổng lồ “ Mắt thần Đông Nam Á” , xây dựng trạm phát sóng truyền hình. Ngày ấy Sơn Trà đầy đồn bót , ra đa, tàu chiến, kho đạn dược, thủy lôi…
Hòa bình lập lại, bắt đầu xa lánh khỏi sự ồn ào của phố xá Sơn Trà như nàng công chúa xinh đẹp ngủ yên với biển cát trắng.
Một tiềm năng du lịch phong phú chưa được khai thác
Sơn Trà còn 4.310 ha rừng nguyên sinh, là nơi lưu trữ nhiều động thực vật quý hiếm. Rừng Sơn Trà còn 289 loài thực vật bậc cao thuộc 217 chi, 90 họ. Trong đó có những loài đặc hữu của Đông Dương mà nay chỉ còn tìm thấy ở Sơn Trà như: dầu lá bóng, chò chai… Sơn Trà cũng là nơi sinh sống của họ hàng nhà khỉ, gà tiển mặt đỏ… Đây là những loài thú quý hiếm đã có tên trong danh sách đỏ. Sơn Trà ở vào vị trí tách biệt giữa biển, được quản lý theo quy chế rừng cấm nên có điều kiện hạn chế sự pha tạp, bảo vệ được các nguồn ghen quý về động, thực vật.
Sơn Trà có 50 km bờ biểm (chiếm ¾ chu vi bán đảo), có nhiều biển đẹp còn giữ nguyên vẻ hoang sơ: bãi Tiên Sa rộng 1 ha, bãi Bắc: 7ha, bãi xếp: 1ha, bãi Nam: 5ha, bãi bụt: 4ha… Muốn đến bãi Bắc phải đi bằng thuyền, còn các bãi khác có thể đi bằng xe máy, đi ô tô trên những con đường vắt ngang sườn núi.
Theo đánh giá của những người tổ chức các tour du lịch thì bán đảo Sơn Trà với đầy đủ rừng, biển, suối đá…. Rất thuận lợi cho việc phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, tắm và lặn biển… Đến nay, ngoài một số cơ sở nuôi cá xuất khẩu của Nhật liên doanh với ta tại bãi Nam, các hoạt động khác hầu như chưa có gì. Những người có máu nghệ sĩ một chút đã bắt đầu khai thác bãi Bụt – bãi gần nhất. Song cũng chỉ là tự phát. Trong số này, người đàu tiên phải kể đến là anh Nguyễn Văn Sơn, anh được gọi là “già làng” ở đây. Vốn là một thanh niên xưng phong, Sơn nhận đất trồng rừng phòng hộ Sơn Trà, kết hợp mở cơ sở làm dịch vụ. Đến nay, trong tay anh đã có hơn 20 ha rừng bắt đầu đến kỳ khai thác. Dưới chân núi, anh làm nhà hàng, đắp đập làm hồ nuôi cá, làm hủy điện. Ngày nghỉ, khách từ thành phố ra bãi Bụt du ngoạn có thể đến khu vườn của anh để nghỉ mát trong những căn nhà lá, những hốc đá, trong những gốc cây tự nhiên được anh sắp xếp cong phu, được thưởng thức các món ăn đặc sản tươi rói từ biển và giá cả phải chăng. Anh tâm sự: “Tôi làm theo ý thích của mình là chính. Chưa ai quy hoạch, cũng chưa dám làm gì nhiều”. Còn các anh Nguyễn Dũng, Hồ Xuân Bổn – những nghệ sĩ nhiếp ảnh của Đà Nẵng – thì lại mang đến cho Bãi Bụt một sản phẩm lạ, đó là những ngôi nhà được xây bằng đá cuội rất công phu. Mái lợ lád dừa, nhưng tường đá là những bức tranh tự nhiên được con người dày công tái tạo. Trong những ngôi nhà này, từ bàn ghế, đến khung cửa, những bức phù điêu giả gỗ, những bức ảnh từng đoạt giải nọ giải kia đã thật sự gây ấn tượng cho khách tham quan.
Những ngày nghỉ, nam nữ thanh niên, học sinh, sinh viên đã về với Bãi Bụt, có ngày không còn cả lối đi, con số vài nghìn người là chuyện bình thường. Một số đoàn khách ở xa Đà Nẵng cũng đã bắt đầu chú ý đến bãi Bụt. Tuy nhiên, vì đây mới chỉ là điểm du lịch tự phát, nhưng lại là du lịch của những chàng lãng tử nên còn mang đậm tính “nghệ thuật” là chính. Đẻ hát triển Bãi Bụt và sau đó là các bãi khác thành những bãi biển du lịch theo đúng nghĩa của nó thì cần phải có con người, quy hoạch, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng…
Đã có nhiều đòan cán bộ của thành hố, của ngành Du lịch đến đây xem xét, xong đến nay cũng chưa có tín hiệu nào cho thấy thành phố chú ý đến việc xây dựng nơi đây thành một điểm du lịch. Mặc dù trong chương trình du lịch của thành phố và quy hoạch Di lịch đến năm 2010, Đà Nẵng đã xác định phải phát triển du lịch biển, tạo thành sản phẩm du lịch độc đáo của các địa phương, trong đó có du lịch bán đảo Sơn Trà.
Khách du lịch vẫn biết đến Bãi Bụt – Sơn Trà ngày càng đông. Sức hút của vẻ đẹp thiên nhiên đang ngày càng lớn hơn để đưa con người trở về với biển trời, thiên nhiên kỳ thú. Hãy đánh thức người đẹp tỉnh giấc để Đà Nẵng đẹp hơn bằng những việc làm cụ thể, kịp thời.
Xuân Tú – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 8(173)2001

Hà Nội “Vi phạm trật tự xây dựng đô thị” – Phần 2

Điều này có thể nhìn thấy từ việc ông Nguyễn Danh Hùng: Nếu chính quyền địa phương, cán bộ chuyên ngành ở cơ sở có ý kiến, biện pháp ngăn chặn từ đầu thì đâu đến mức Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, quận Hai Bà Trưng phải chi phí tốn kém, mất thời gian cho việc họp đi họp lại về vấn đề xử lý, còn bản thân gia đình ông Hùng cũng không chịu thiệt hại về kinh tế khi phải phá dỡ căn nhà 3 tầng mới xây! Hơn nữa, trách nhiệm trong phối hợp giữa cấp và ngành, quận và phường, giữa đội quản lý trật tự xây dựng đô thị và các tổ quản lý ở phường chưa rõ ràng, dẫn đến việc đùn đẩy, né tránh trách nhiệm không làm hết nhiệm vụ được giao. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của lực lượng quản lý trật tự xây dựng đô thị còn yếu, không đáp ứng yêu cầu chuyên môn do chưa được đào tạo đầy đủ cũng là một khó khăn cho việc thực hiện nhiệm vụ. Trong những năm qua, việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật, quy định trong xây dựng chưa được ngành chức năng quan tâm, tiến hành thường xuyên để mọi người cùng biết và thực hiện nên hiểu biết của nhiều người còn hạn chế, dẫn tới vi phạm.
Chúng tôi cũng cho rằng, nguyên nhân để các vụ vi phạm trật tự xây dựng đô thị vẫn tồn tại và cả tiếp diễn còn là do sự bất cập của các văn bản pháp luật, khiến việc thực hiện bị vướng mắc. Năm 1997, Chính phủ ban hành đồng thời Nghị định 04/CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý sử dụng đất và Nghị định 48/CP về xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý nhà và công trình kỹ thuật hạ tầng. Nhưng việc gắn kết 2 Nghị định trên trong công tác quản lý gặp nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, Nghị định 48/CP quy định 20/26 hành vi vi phạm thuộc thẩm quyền xử lý của Thanh tra chuyên ngành xây dựng, nhà đất trong khi tổ chức này chưa được hình thành; quy trình xử lý đối với các công trình xây dựng có vi phạm còn chậm, không phù hợp thực tế…
Nhằm khắc phục tình trạng vi phạm trật tự xây dựng đô thị trên địa bàn, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã xây dựng đề án “Tăng cường quản lý trật tự xây dựng đô thị trên địa bàn” trong giai đoạn 2001 – 2005 với 6 giai đoạn chính: Đề xuất với Chính phủ bổ sung, sửa đổi các văn bản pháp luật của Nhà nước có liên quan; công bố điều lệ quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị Thành phố và quận, huyện; đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất; quản lý và cấp phép xây dựng; tăng cường tuyên truyền các quy định về xây dựng cho nhân dân; củng cố tổ chức lực lượng quản lý đô thị. Nhưng theo chúng tôi, để giải quyết triệt để các vụ vi phạm trật tự xây dựng đô thị mà trong đó, chiếm đa phần là các vụ xây dựng không phép do thiếu điều kiện xin cấp phép, thì vấn đề tiên quyết phải là sớm hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử hữu nhà, quyền sử dụng đất cho người dân. Đồng thời, chú trọng hơn nữa vấn đề tuyên truyền, nâng cao hiểu biết của người dân trong thực hiện quản lý trật tự xây dựng đô thị. Nếu không, chỉ người dân là chịu mọi thiệt thòi và bài toán về trật tự xây dựng đô thị ở Hà Nội vẫn khó có lời giải.
Ngô Thanh Hằng – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT- DL – Hà Nội – Năm 14(179)2000

Hà Nội “Vi phạm trật tự xây dựng đô thị” – Phần 1

Bài toán liệu có lời giải?
Vừa qua, dư luận đặc biệt quan tâm đến trường hợp vi phạm trật tự xây dựng đô thị (TTXDĐT) của ông Nguyễn Danh Hùng – Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Bách Khoa (Hà Nội) và có quá nhiều cuộc họp phải tổ chức cùng sự tốn kém giấy mực của báo giới. Đi sâu tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi đã giật mình khi được biết. Đó không phải là duy nhất mà việc vi phạm trật tự xây dựng đô thị đã và đang rất phổ biến ở thủ đô. Có lẽ vì thế. Nghị quyết Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội (khóa XII), kỳ họp thứ 3 đã nêu rõ một trong những nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2000 là tập trung chỉ đạo chấn chỉnh công tác quản lý quy hoạch và xây dựng đô thị.
Ông Nguyễn Văn Thứ – Trưởng phòng Tổ chức – Lao động (Sở xây dựng Hà Nội) cho biết mỗi tháng Hà Nội có khoảng 1.000 vụ vi phạm trật tự xây dựng đô thị, chủ yếu về lấn chiếm đất công, vi phạm chỉ giới đường đỏ, chỉ giới xây dựng, hành lang an toàn giao thông, xây dựng không phép, sai phép. Trong đó, vi phạm chủ yếu là xây dựng không phép.
Quả có thế! Chỉ 2 tháng đầu năm 2001, riêng quận Hai Bà Trưng đã có 270 vụ vi phạm, trong đó 264 vụ là xây dựng không phép; 121 vụ vi phạm của huyện Từ Liêm đều là không phép; trong 94 vụ vi phạm của quận Tây Hồ thì số vụ xây dựng không phép là 93 vụ; 80/83 vụ vi phạm thuộc quận Cầu Giấy cũng là xây dựng không phép… Theo ông Lê Quang Phú – Phó Chánh thanh tra (Sở Xây dựng Hà Nội) thì “hầu hết các nhà xây dựng trên đường Chùa Bộc là không phép. Hiện tại, ở dải đất phía Nam của trục đường Đại Cồ Việt, việc xây dựng không phép đang có chiều hướng phát triển mà chưa được kiểm soát và ngăn chặn có hiệu quả”.
Như vậy, tình trạng vi phạm trật tự xây dựng đô thị – nhất là xây nhà không phép đang là “nan y” ở Hà Nội. Vì sao vậy?
Cũng theo ông Lê Quang Phú thì để được cấp giấy phép xây dựng chỉ cần 3 điều kiện: Đơn xin phép, giấy chứng nhận (GCN) quyền sử dụng đất và bản vẽ thiết kế. Với 3 điều kiện đó, tưởng như việc xin phép xây dựng cũng dễ dàng. Nhưng cái nút thắt khó cởi lại chính là ở chỗ: Đã nhiều năm, việc xác lập quyền sử dụng đất cũng như công tác quản lý đất bị buông lỏng nên việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất gặp nhiều khó khăn. Đến nay, mới chỉ có 26.342 giấy chứng nhận được cấp (trong đó có 17.216 giấy chứng nhận do bán nhà ở theo Nghị định 61/CP). Riêng quận lớn nhất Hà Nội là Hai Bà Trưng mà tỉ lệ người dân có nhà được cấp giấy chứng nhận mới chỉ chiếm 1%. Đây quả là con số quá khiêm tốn so với thực tế. Vì thế, không có giấy chứng nhận, người dân lấy đâu đủ điều kiện để xin cấp phép xây dựng nhà ở? Trong khi đó, chỗ ở của nhiều gia đình rất khó khăn do nhà đã xây dựng nhiều năm, con cái lớn đã xây dựng gia đình, khiến việc cải tạo và xây mới nhà ở là yêu cầu bức thiết. Tình trạng mâu thuẫn trên đưa đến thực tế là hiện tượng xây dựng không phép cứ như một “bệnh dịch” ở Hà Nội.
Bên cạnh đó, nguyên nhân để các vụ vi phạm trật tự xây dựng đô thị ở Hà Nội khó bề ngăn chặn còn là công tác quy hoạch chi tiết, khai thác, sử dụng quy hoạch chi tiết đã được phê duyệt; việc xác định chỉ giới, cắm mốc dự án, tuyến đường diễn ra rất chậm. Đã vậy, việc hướng dẫn người dân xây dựng theo quy hoạch, kiến trúc ở các khu vực quy hoạch chưa hoàn chỉnh cũng rất hạn chế. Thậm chí, nhiều quy hoạch thiếu tính thực tế như một cán bộ có trách nhiệm cho biết: “Nơi nhà dân đang ở lại quy hoạch là vườn hoa”. Ngoài ra, cho dù Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã chỉ đạo cải tiến quy trình cấp phép, song hiện nay, thủ tục cấp phép xây dựng vẫn còn phiền hà, nhiều vướng mắc. Sự thiếu kiên quyết của chính quyền cơ sở trong xử lý vi phạm là yếu tố không nhỏ để các vụ vi phạm trật tự xây dựng đô thị diễn ra phổ biến.
Ngô Thanh Hằng – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT- DL – Hà Nội – Năm 14(179)2000

Lãnh đạo tổng cục du lịch làm việc tại miền trung, tây nguyên

Từ ngày 26/3 đến 1/4/2001, Tổng cục trưởng Võ Thị Thắng cùng các Phó Tổng cục trưởng Nguyễn Phú Đức, Vũ Tuấn Cảnh và đại diện Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, Vụ Kế hoạch Đầu tư (thuộc Tổng cục Du lịch) đã về làm việc tại các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên. Đoàn đã có các cuộc tiếp xúc với lãnh đạo tỉnh và ngành Du lịch các tỉnh, thành Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Khánh Hòa và Lâm Đồng để xúc tiến việc triển khai lập dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các khu du lịch tổng hợp quốc gia Cảnh Dương – Lăng Cô – Hải Vân – Non Nước – Cẩm An; khu du lịch tổng hợp Văn Phong – Đại Lãnh và khu d lịch Đan Kia – Suối Vàng. Tại các cuộc tiếp xúc, các địa phương đã nêu nhiều kiến nghị với Tổng cục về việc giải quyết các vướng mắc về vốn đầu tư, trình tự triển khai, hệ thống cơ sở hạ tầng: đường, điện, cấp nước, xử lý môi trường… và mong muốn được Nhà nước quan tâm đầu tư để ngành Du lịch ở địa phương này phát triển. Đoàn cũng đã dành thời gian khảo sát thực địa các khu vực dự kiến xây dựng các khu du lịch tổng hợp.
Nhân dịp này, sáng ngày 27/3/2001, Phó Tổng cục trưởng Nguyễn Phú Đức đã đến dự lễ khởi công xây dựng khu vui chơi giải trí hồ Thủy Tiên. Đây là khu vui chơi tổng hợp với nhiều hạng mục như: Thủy cung, Công viên nước, Vườn địa đàng, Khu thần tiên, Khu tổ chức các trò chơi mạo hiểm… với kinh phí đầu tư 74 tỷ đồng. Dự án này được chia thành 3 giai đoạn, thực hiện từ nay đến năm 2006. Trước mắt, giai đoạn 1 sẽ hoàn thành một số hạng mục chính kịp đưa vào phục vụ Festival Huế tháng 5/2002.
Tổng cục Du lịch triển khai thực hiện nghị định số 03/2001/NĐ-CP của Chính phủ
Ngày 23/3/2001, tại Hà Nội, Tổng cục Du lịch đã tổ chức Hội nghị triển khai Nghị định số 03/2001/ NĐ-CP ngày 11/01/2001 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 28/CP ngày 28/03/1997 của Chính phủ về đổi mới quản lý tiền lương, thu nhập trong các doanh nghiệp Nhà nước.
Về dự Hội nghị có Giám đốc, Kế toán trưởng, Trưởng phòng tổ chức hành chính và chuyên viên làm công tác lao động tiền lương của các doanh nghiệp trực thuộc Tổng cục du lịch.
Sau phần khai mạc và chỉ đạo Hội nghị của Phó Tổng cục trưởng Nguyễn Phú Đức; trong phần giới thiệu Nghị định 03 và các văn bản hướng dẫn của Bộ Lao động Thương binh và xã hội, Phó vụ trưởng Vụ tổ chức các bộ Bùi Văn Đồng đã nhấn mạnh những nội dung bổ sung, sửa đổi nhằm tăng cường, cũng cố bộ phận chuyên trách làm công tác lãnh đạo tiền lương ở các doanh nghiệp. Tiếp đó, Phó vụ trưởng Vụ kế hoạch và đầu tư Ngô Thị Kim Chung nêu một số các quy chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với doanh nghiệp Nhà nước có liên quan đến phần xây dựng và thẩm định kế hoạch lợi nhuận.
Hội nghị đã trao đổi, thảo luận và giải đáp xung quanh các vấn đề liên quan đến xây dựng kế hoạch lợi nhuận, định mức lao động và đơn giá tiền lương năm 2001 của Tổng cục thực hiện quy định của Nhà nước.
Vân Thiêng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Năm 13 (178) 2001.

Những kỹ thuật quản lý đoàn khách

Để quản lý một đoàn khách dù lớn hay nhỏ đòi hỏi ở hướng dẫn viên (HDV) những kỹ năng và kinh nghiệm đặc biệt. Đoàn khách càng đông thì công việc của hướng dẫn viên càng khó khăn hơn bởi luôn phải đối mặt với nguy cơ không kiểm soát hết được cả đoàn khách. Ví dụ như lạc mất một thành viên nào đó, hay có người khách không nghe được hết lời thuyết minh nên gây mất trật tự… làm cách nào khác để khắc phục được tất cả những rắc rối đó? Dưới đây là một số biện pháp mà các hướng dẫn viên có thể tham khảo và áp dụng.
Đặt ra quy tắc cho cả đoàn ngay từ đầu
Đây có lẽ là kỹ thuật đơn giản và dễ áp dụng nhất. Hướng dẫn viên nên thực hiện biện pháp này ngay từ khi tiếp nhận đoàn. Hướng dẫn viên cần nói rõ cho khách biết tour sẽ diễn ra như thế nào, nhằm giúp cho khách không bị bối rối do không biết mình được và không làm được những gì. Để cùng hiểu biết, hỗ trợ nhau trong suốt chuyến đi, hướng dẫn viên cần chủ động đặt ra các quy tắc như sau.
Quy tắc đầu tiên là biết im lặng. Hướng dẫn viên sẽ nói với đoàn rằng khi hướng dẫn viên đang thuyết minh thì mọi người trong đoàn nên giũ yên lặng để nghe và giải thích rằng điều đó sẽ giúp cho tất cả mọi người nghe và hiểu được lời thuyết minh tốt hơn. Nếu có thể, nên bổ sung thêm, rằng: khi mọi người làm ồn thì hướng dẫn viên sẽ im lặng. Hướng dẫn viên nên cho khách biết là họ có thể đặt câu hỏi nếu chưa hiểu, tất nhiên phải lần lượt từng người, hướng dẫn viên sẽ trả lời từng câu hỏi một. có vậy mọi người trong đoàn mới nghe rõ được từng câu hỏi và từng câu trả lời, và nó cũng giúp hướng dẫn viên nghe được câu hỏi một cách rõ ràng. Hướng dẫn viên du lịch cũng nên đưa cho khách địa chỉ của khách sạn đoàn sẽ nghỉ lại, phòng trường hợp có khách bị lạc. Một yêu cầu cơ bản khác là hướng dẫn viên phải yêu cầu các thành viên trong đoàn nên đi cùng nhau và phải luôn ở bên cạnh hướng dẫn viên. Để làm điều này, hướng dẫn viên nên giải thích với khách hàng rằng điều đó sẽ đảm bảo cho hành trình được xuyên suốt và không ai bị lạc hay bị bỏ lại đằng sau.
Nói chung nếu những quy tắc trên được đưa ra càng sớm, càng rõ ràng cụ thể bao nhiêu, càng dễ dàng hơn cho hướng dẫn viên trong việc quản lý một đoàn khách, đặc biệt là một đoàn đông. Tuy nhiên, những quy tắc trên có thể chưa đủ để đảm bảo rằng nó thực sự thích hợp trong mọi lúc cũng như rằng sẽ không có rắc rối gì xảy ra.
Tăng mối liên kết của cả đoàn
Có hai yếu tố để tăng mối liên kết cả đoàn với nhau. Đó là nội dung và độ truyền cảm của lời thuyết minh.
Nội dung của lời thuyết minh hay cụ thể hơn các thông tin được sử dụng càng cập nhật và đầy đủ bao nhiêu thì càng hấp dẫn, càng khiến cho du khách lắng nghe và ở gần hướng dẫn viên có thể lấy từ báo chí, đài, ti vi, cũng có thể lấy từ các chuyên gia du lịch, thậm chí từ chính các khách du lịch. Nếu hướng dẫn viên chỉ miêu tả điểm tham quan thì chưa đủ, mà còn phải chọn lọc những chi tiết, giai thoại đã có trong vốn kiến thức sâu rộng của mình để kể cho khách nghe. Có như vậy mới có thể hấp dẫn được khách.
Không chỉ chú ý đến nội dung của lời thuyết minh, hướng dẫn viên còn phải biết làm cho câu nói của mình truyền cảm, dễ nghe, dễ hiểu. Nên nhớ rằng trong một đoàn đông, các thành viên sẽ rất khó tập trung để có thể hiểu hết được lời hướng dẫn viên du lịch nói. Do suốt cả chặng đường phải đi bên nhau, nên có thể khi đến điểm tham quan họ đã mệt mỏi. Thêm vào đó, sau một thời gian dài bên nhau, mối quan hệ hình thành, mọi người hẳn sẽ thích hỏi han và tán gẫu với nhau. Vậy làm sao để duy trì được sự kiểm soát đây? Hướng dẫn viên phải rất cẩn thận khi duy trì mối cân bằng giữa nhu cầu của cả đoàn với nhu cầu của một vài cá nhân trong đoàn, những người tỏ ra muốn nghỉ ngơi, thư giãn, nói chuyện riêng, hỏi han, pha trò. Cách tốt nhất lúc đó là hướng dẫn viên nên nói to và rõ ràng hơn bởi vì việc nói to, rõ sẽ giúp cho khách nghe và hiểu được dễ hơn. Hướng dẫn viên phải học cách điều khiển âm lượng của mình sao chon gay cả những người khách đứng tận cuối đoàn cũng nghe được những gì mình nói trong khi người đứng ngay bên cạnh không thấy nó quá lớn.
Nếu những người cuối đoànkhông nghe được, họ sẽ bắt đầu quấy rầy những người khác dẫn đến sự rối loạn khi cùng lúc có quá nhiều người nói. Trong trường hợp đang ngồi trên xe thì hướng dẫn viên nên điều chỉnh hệ thống âm thanh sao chomoij người cùng nghe rõ. Tuy nhiên nếu nói to hơn mà khách vẫn không hiểu thì hướng dẫn viên phải nói rõ ràng hơn bằng cách phát âm từ cho chuẩn. Đồng thời phải kết hợp việc sử dụng các kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ và cả phi ngôn ngữ. Khi đó hướng dẫn viên sẽ dễ kiểm soát đoàn hơn và sẽ hạn chế những tình huống khó khăn trên ít xảy ra hơn.
Nguyệt Ánh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(135)2000.

Đông Hồ – hàng mã thì nổi hàng tranh thì chìm – Phần 2

Muốn khôi phục lại làng tranh Đông Hồ thì điều quan trọng nhất là phải dựa vào chính những người dân ở đây bởi vì chỉ có ở mảnh đất này, nghề tranh mới có thể được phục hồi, phát triển và trường tồn. Chính tên tuổi của làng Hồ đã thu hút khách du lịch trong cả nước. Vậy thì tại sao chúng ta không chú ý đến hướng xây dựng Đông Hồ trở thành một làng văn hóa, tiếp tục duy trì nghề truyền thống nhưng bên cạnh mục đích kinh tế là làm tranh để bán, phải làm thế nào để du khách đến làng Hồ cảm nhận được “hồn dân tộc” toát ra từ những tờ tranh, biến quá trình làm tranh trở thành một thứ nghệ thuật độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc. Mặt khác, bên cạnh việc phát triển nghề làm tranh truyền thống, chúng ta cũng phải hết sức giữ gìn và phát huy những nét độc đáo của tranh Đông Hồ như chất liệu tự nhiên, đề tài dân gian….vì đây chính là thế mạnh nổi bật của dòng tranh này. Đồng thời, cũng cần khuyến khích việc thể nghiệm những thể loại mới lạ, phù hợp với cuộc sống hiện đại. Nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam đã sáng tác bức tranh “Tấm áo năm xưa” trên nền giấy dó với màu thiên nhiên, lấy cảm hứng từ bài hát “Tấm áo mẹ vá năm xưa” của nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý. Trong khi đó, nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế lại khắc một bức tranh dân gian trên gỗ. Đó là những sáng tạo rất đáng được trân trọng. Ông Chế còn tỏ ra khá nhanh nhạy với cơ chế thị trường khi áp dụng một cách làm ăn năng động, có hiệu quả. Trong mỗi kỳ Hội chợ Xuân, gia đình ông đều mang tranh tham dự. Đó cũng là một cách để giới thiệu tranh dân gian Đông Hồ với du khách trong và ngoài nước.
Một hướng đi khác để phát triển làng tranh là nhận những đơn đặt hàng của nước ngoài. Gia đình nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam vừa qua đã ký một hợp đồng làm 40.000 từ tranh cho Nhật Bản. Nhờ đó, ông không chỉ tạo công ăn việc làm cho một số lao động mà còn làm giàu được bằng nghề tranh truyền thống.
Và một vấn đề trọng yếu cần quan tâm là, việc khôi phục làng tranh Đông Hồ không được tách rời với việc giữ gìn, bảo tồn và phát triển vùng văn hóa Kinh Bắc vốn nổi tiếng với quan họ Bắc Ninh, với những chùa chiền đền miếu trong đó có Luy Lâu – được coi là quê hương của Phật giáo ở Việt Nam.
Một nghề truyền thống được khôi phục không chỉ tạo ra một lượng công việc rất lớn cho người dân, giúp họ sống được bằng chính nghề nghiệp của mình cũng như tạo ra một nguồn thu không nhỏ từ dịch vụ du lịch khi Đông Hồ thực sự tồn tại như một làng văn hóa, mà còn góp phần lưu giữ một nét đẹp trên gương mặt văn hóa Việt Nam và thế giới, phù hợp với tinh thần Nghị quyết Trung ương V của Đảng về việc một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Thay cho lời kết, xin được trích dẫn lời của ông Geofrey B. Hainsworth (giáo sư khoa Kinh tế, Giám đốc trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á) ghi trong cuốn sổ lưu niệm của nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế: “Không thể có sự phát triển nếu con người không có nguồn gốc. Chúng tôi rất vui mừng khi thấy nguồn gốc văn hóa Việt Nam được bảo tồn một cách tuyệt vời”.
Thanh Phượng – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999