Bao giờ Sơn Trà thức giấc?

Sơn Trà trong quá khứ
Với chiều dài hơn 15km, định cao nhất 696 mét cùng nhiều đỉnh cao 500 mét, từ lâu, bán đảo Sơn Trà đã trở thành bức bình phong che chắn cho Đà Nẵng. Các nhà hàng hải phương Tây thế kỷ 18 đã đánh giá cảng Đà Nẵng là hải cảng đẹp và an lành nhất thế giới. Khi tiếng súng xâm lược đầu tiên của thực dân phá tấn công vào vịnh Đà Nẵng năm 1858, Sơn Trà trở thành tiền đồn của quân và dân ta đương đầu với giặc để giữ gìn bờ cõi. Nhưng ngôi mộ lính viễn chinh Tây phương nằm tại nghĩa địa I – pha nho trên núi đã để lại vết tích của những cuộc giao tranh đẫm máu của quân dân ta với liên quân Pháp – Tây Ban Nha. Khi Đà Nẵng trở thành nhượng địa của Pháp, thực dân bắt đầu xây dựng nơi đây thành một căn cứ quân sự; mở đường lên núi, mở cảng Tiên Sa. Thời chống Mỹ, Sơn Trà một lần nữ được Mỹ xây dựng thành một căn cứ quân sự đồ sộ với đầy đủ đường lên núi, sân bay trực thăng, đài quan sát khổng lồ “ Mắt thần Đông Nam Á” , xây dựng trạm phát sóng truyền hình. Ngày ấy Sơn Trà đầy đồn bót , ra đa, tàu chiến, kho đạn dược, thủy lôi…
Hòa bình lập lại, bắt đầu xa lánh khỏi sự ồn ào của phố xá Sơn Trà như nàng công chúa xinh đẹp ngủ yên với biển cát trắng.
Một tiềm năng du lịch phong phú chưa được khai thác
Sơn Trà còn 4.310 ha rừng nguyên sinh, là nơi lưu trữ nhiều động thực vật quý hiếm. Rừng Sơn Trà còn 289 loài thực vật bậc cao thuộc 217 chi, 90 họ. Trong đó có những loài đặc hữu của Đông Dương mà nay chỉ còn tìm thấy ở Sơn Trà như: dầu lá bóng, chò chai… Sơn Trà cũng là nơi sinh sống của họ hàng nhà khỉ, gà tiển mặt đỏ… Đây là những loài thú quý hiếm đã có tên trong danh sách đỏ. Sơn Trà ở vào vị trí tách biệt giữa biển, được quản lý theo quy chế rừng cấm nên có điều kiện hạn chế sự pha tạp, bảo vệ được các nguồn ghen quý về động, thực vật.
Sơn Trà có 50 km bờ biểm (chiếm ¾ chu vi bán đảo), có nhiều biển đẹp còn giữ nguyên vẻ hoang sơ: bãi Tiên Sa rộng 1 ha, bãi Bắc: 7ha, bãi xếp: 1ha, bãi Nam: 5ha, bãi bụt: 4ha… Muốn đến bãi Bắc phải đi bằng thuyền, còn các bãi khác có thể đi bằng xe máy, đi ô tô trên những con đường vắt ngang sườn núi.
Theo đánh giá của những người tổ chức các tour du lịch thì bán đảo Sơn Trà với đầy đủ rừng, biển, suối đá…. Rất thuận lợi cho việc phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, tắm và lặn biển… Đến nay, ngoài một số cơ sở nuôi cá xuất khẩu của Nhật liên doanh với ta tại bãi Nam, các hoạt động khác hầu như chưa có gì. Những người có máu nghệ sĩ một chút đã bắt đầu khai thác bãi Bụt – bãi gần nhất. Song cũng chỉ là tự phát. Trong số này, người đàu tiên phải kể đến là anh Nguyễn Văn Sơn, anh được gọi là “già làng” ở đây. Vốn là một thanh niên xưng phong, Sơn nhận đất trồng rừng phòng hộ Sơn Trà, kết hợp mở cơ sở làm dịch vụ. Đến nay, trong tay anh đã có hơn 20 ha rừng bắt đầu đến kỳ khai thác. Dưới chân núi, anh làm nhà hàng, đắp đập làm hồ nuôi cá, làm hủy điện. Ngày nghỉ, khách từ thành phố ra bãi Bụt du ngoạn có thể đến khu vườn của anh để nghỉ mát trong những căn nhà lá, những hốc đá, trong những gốc cây tự nhiên được anh sắp xếp cong phu, được thưởng thức các món ăn đặc sản tươi rói từ biển và giá cả phải chăng. Anh tâm sự: “Tôi làm theo ý thích của mình là chính. Chưa ai quy hoạch, cũng chưa dám làm gì nhiều”. Còn các anh Nguyễn Dũng, Hồ Xuân Bổn – những nghệ sĩ nhiếp ảnh của Đà Nẵng – thì lại mang đến cho Bãi Bụt một sản phẩm lạ, đó là những ngôi nhà được xây bằng đá cuội rất công phu. Mái lợ lád dừa, nhưng tường đá là những bức tranh tự nhiên được con người dày công tái tạo. Trong những ngôi nhà này, từ bàn ghế, đến khung cửa, những bức phù điêu giả gỗ, những bức ảnh từng đoạt giải nọ giải kia đã thật sự gây ấn tượng cho khách tham quan.
Những ngày nghỉ, nam nữ thanh niên, học sinh, sinh viên đã về với Bãi Bụt, có ngày không còn cả lối đi, con số vài nghìn người là chuyện bình thường. Một số đoàn khách ở xa Đà Nẵng cũng đã bắt đầu chú ý đến bãi Bụt. Tuy nhiên, vì đây mới chỉ là điểm du lịch tự phát, nhưng lại là du lịch của những chàng lãng tử nên còn mang đậm tính “nghệ thuật” là chính. Đẻ hát triển Bãi Bụt và sau đó là các bãi khác thành những bãi biển du lịch theo đúng nghĩa của nó thì cần phải có con người, quy hoạch, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng…
Đã có nhiều đòan cán bộ của thành hố, của ngành Du lịch đến đây xem xét, xong đến nay cũng chưa có tín hiệu nào cho thấy thành phố chú ý đến việc xây dựng nơi đây thành một điểm du lịch. Mặc dù trong chương trình du lịch của thành phố và quy hoạch Di lịch đến năm 2010, Đà Nẵng đã xác định phải phát triển du lịch biển, tạo thành sản phẩm du lịch độc đáo của các địa phương, trong đó có du lịch bán đảo Sơn Trà.
Khách du lịch vẫn biết đến Bãi Bụt – Sơn Trà ngày càng đông. Sức hút của vẻ đẹp thiên nhiên đang ngày càng lớn hơn để đưa con người trở về với biển trời, thiên nhiên kỳ thú. Hãy đánh thức người đẹp tỉnh giấc để Đà Nẵng đẹp hơn bằng những việc làm cụ thể, kịp thời.
Xuân Tú – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 8(173)2001

Hà Nội “Vi phạm trật tự xây dựng đô thị” – Phần 2

Điều này có thể nhìn thấy từ việc ông Nguyễn Danh Hùng: Nếu chính quyền địa phương, cán bộ chuyên ngành ở cơ sở có ý kiến, biện pháp ngăn chặn từ đầu thì đâu đến mức Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, quận Hai Bà Trưng phải chi phí tốn kém, mất thời gian cho việc họp đi họp lại về vấn đề xử lý, còn bản thân gia đình ông Hùng cũng không chịu thiệt hại về kinh tế khi phải phá dỡ căn nhà 3 tầng mới xây! Hơn nữa, trách nhiệm trong phối hợp giữa cấp và ngành, quận và phường, giữa đội quản lý trật tự xây dựng đô thị và các tổ quản lý ở phường chưa rõ ràng, dẫn đến việc đùn đẩy, né tránh trách nhiệm không làm hết nhiệm vụ được giao. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của lực lượng quản lý trật tự xây dựng đô thị còn yếu, không đáp ứng yêu cầu chuyên môn do chưa được đào tạo đầy đủ cũng là một khó khăn cho việc thực hiện nhiệm vụ. Trong những năm qua, việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật, quy định trong xây dựng chưa được ngành chức năng quan tâm, tiến hành thường xuyên để mọi người cùng biết và thực hiện nên hiểu biết của nhiều người còn hạn chế, dẫn tới vi phạm.
Chúng tôi cũng cho rằng, nguyên nhân để các vụ vi phạm trật tự xây dựng đô thị vẫn tồn tại và cả tiếp diễn còn là do sự bất cập của các văn bản pháp luật, khiến việc thực hiện bị vướng mắc. Năm 1997, Chính phủ ban hành đồng thời Nghị định 04/CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý sử dụng đất và Nghị định 48/CP về xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý nhà và công trình kỹ thuật hạ tầng. Nhưng việc gắn kết 2 Nghị định trên trong công tác quản lý gặp nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, Nghị định 48/CP quy định 20/26 hành vi vi phạm thuộc thẩm quyền xử lý của Thanh tra chuyên ngành xây dựng, nhà đất trong khi tổ chức này chưa được hình thành; quy trình xử lý đối với các công trình xây dựng có vi phạm còn chậm, không phù hợp thực tế…
Nhằm khắc phục tình trạng vi phạm trật tự xây dựng đô thị trên địa bàn, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã xây dựng đề án “Tăng cường quản lý trật tự xây dựng đô thị trên địa bàn” trong giai đoạn 2001 – 2005 với 6 giai đoạn chính: Đề xuất với Chính phủ bổ sung, sửa đổi các văn bản pháp luật của Nhà nước có liên quan; công bố điều lệ quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị Thành phố và quận, huyện; đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất; quản lý và cấp phép xây dựng; tăng cường tuyên truyền các quy định về xây dựng cho nhân dân; củng cố tổ chức lực lượng quản lý đô thị. Nhưng theo chúng tôi, để giải quyết triệt để các vụ vi phạm trật tự xây dựng đô thị mà trong đó, chiếm đa phần là các vụ xây dựng không phép do thiếu điều kiện xin cấp phép, thì vấn đề tiên quyết phải là sớm hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử hữu nhà, quyền sử dụng đất cho người dân. Đồng thời, chú trọng hơn nữa vấn đề tuyên truyền, nâng cao hiểu biết của người dân trong thực hiện quản lý trật tự xây dựng đô thị. Nếu không, chỉ người dân là chịu mọi thiệt thòi và bài toán về trật tự xây dựng đô thị ở Hà Nội vẫn khó có lời giải.
Ngô Thanh Hằng – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT- DL – Hà Nội – Năm 14(179)2000

Hà Nội “Vi phạm trật tự xây dựng đô thị” – Phần 1

Bài toán liệu có lời giải?
Vừa qua, dư luận đặc biệt quan tâm đến trường hợp vi phạm trật tự xây dựng đô thị (TTXDĐT) của ông Nguyễn Danh Hùng – Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Bách Khoa (Hà Nội) và có quá nhiều cuộc họp phải tổ chức cùng sự tốn kém giấy mực của báo giới. Đi sâu tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi đã giật mình khi được biết. Đó không phải là duy nhất mà việc vi phạm trật tự xây dựng đô thị đã và đang rất phổ biến ở thủ đô. Có lẽ vì thế. Nghị quyết Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội (khóa XII), kỳ họp thứ 3 đã nêu rõ một trong những nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2000 là tập trung chỉ đạo chấn chỉnh công tác quản lý quy hoạch và xây dựng đô thị.
Ông Nguyễn Văn Thứ – Trưởng phòng Tổ chức – Lao động (Sở xây dựng Hà Nội) cho biết mỗi tháng Hà Nội có khoảng 1.000 vụ vi phạm trật tự xây dựng đô thị, chủ yếu về lấn chiếm đất công, vi phạm chỉ giới đường đỏ, chỉ giới xây dựng, hành lang an toàn giao thông, xây dựng không phép, sai phép. Trong đó, vi phạm chủ yếu là xây dựng không phép.
Quả có thế! Chỉ 2 tháng đầu năm 2001, riêng quận Hai Bà Trưng đã có 270 vụ vi phạm, trong đó 264 vụ là xây dựng không phép; 121 vụ vi phạm của huyện Từ Liêm đều là không phép; trong 94 vụ vi phạm của quận Tây Hồ thì số vụ xây dựng không phép là 93 vụ; 80/83 vụ vi phạm thuộc quận Cầu Giấy cũng là xây dựng không phép… Theo ông Lê Quang Phú – Phó Chánh thanh tra (Sở Xây dựng Hà Nội) thì “hầu hết các nhà xây dựng trên đường Chùa Bộc là không phép. Hiện tại, ở dải đất phía Nam của trục đường Đại Cồ Việt, việc xây dựng không phép đang có chiều hướng phát triển mà chưa được kiểm soát và ngăn chặn có hiệu quả”.
Như vậy, tình trạng vi phạm trật tự xây dựng đô thị – nhất là xây nhà không phép đang là “nan y” ở Hà Nội. Vì sao vậy?
Cũng theo ông Lê Quang Phú thì để được cấp giấy phép xây dựng chỉ cần 3 điều kiện: Đơn xin phép, giấy chứng nhận (GCN) quyền sử dụng đất và bản vẽ thiết kế. Với 3 điều kiện đó, tưởng như việc xin phép xây dựng cũng dễ dàng. Nhưng cái nút thắt khó cởi lại chính là ở chỗ: Đã nhiều năm, việc xác lập quyền sử dụng đất cũng như công tác quản lý đất bị buông lỏng nên việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất gặp nhiều khó khăn. Đến nay, mới chỉ có 26.342 giấy chứng nhận được cấp (trong đó có 17.216 giấy chứng nhận do bán nhà ở theo Nghị định 61/CP). Riêng quận lớn nhất Hà Nội là Hai Bà Trưng mà tỉ lệ người dân có nhà được cấp giấy chứng nhận mới chỉ chiếm 1%. Đây quả là con số quá khiêm tốn so với thực tế. Vì thế, không có giấy chứng nhận, người dân lấy đâu đủ điều kiện để xin cấp phép xây dựng nhà ở? Trong khi đó, chỗ ở của nhiều gia đình rất khó khăn do nhà đã xây dựng nhiều năm, con cái lớn đã xây dựng gia đình, khiến việc cải tạo và xây mới nhà ở là yêu cầu bức thiết. Tình trạng mâu thuẫn trên đưa đến thực tế là hiện tượng xây dựng không phép cứ như một “bệnh dịch” ở Hà Nội.
Bên cạnh đó, nguyên nhân để các vụ vi phạm trật tự xây dựng đô thị ở Hà Nội khó bề ngăn chặn còn là công tác quy hoạch chi tiết, khai thác, sử dụng quy hoạch chi tiết đã được phê duyệt; việc xác định chỉ giới, cắm mốc dự án, tuyến đường diễn ra rất chậm. Đã vậy, việc hướng dẫn người dân xây dựng theo quy hoạch, kiến trúc ở các khu vực quy hoạch chưa hoàn chỉnh cũng rất hạn chế. Thậm chí, nhiều quy hoạch thiếu tính thực tế như một cán bộ có trách nhiệm cho biết: “Nơi nhà dân đang ở lại quy hoạch là vườn hoa”. Ngoài ra, cho dù Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã chỉ đạo cải tiến quy trình cấp phép, song hiện nay, thủ tục cấp phép xây dựng vẫn còn phiền hà, nhiều vướng mắc. Sự thiếu kiên quyết của chính quyền cơ sở trong xử lý vi phạm là yếu tố không nhỏ để các vụ vi phạm trật tự xây dựng đô thị diễn ra phổ biến.
Ngô Thanh Hằng – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT- DL – Hà Nội – Năm 14(179)2000

Lãnh đạo tổng cục du lịch làm việc tại miền trung, tây nguyên

Từ ngày 26/3 đến 1/4/2001, Tổng cục trưởng Võ Thị Thắng cùng các Phó Tổng cục trưởng Nguyễn Phú Đức, Vũ Tuấn Cảnh và đại diện Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, Vụ Kế hoạch Đầu tư (thuộc Tổng cục Du lịch) đã về làm việc tại các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên. Đoàn đã có các cuộc tiếp xúc với lãnh đạo tỉnh và ngành Du lịch các tỉnh, thành Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Khánh Hòa và Lâm Đồng để xúc tiến việc triển khai lập dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các khu du lịch tổng hợp quốc gia Cảnh Dương – Lăng Cô – Hải Vân – Non Nước – Cẩm An; khu du lịch tổng hợp Văn Phong – Đại Lãnh và khu d lịch Đan Kia – Suối Vàng. Tại các cuộc tiếp xúc, các địa phương đã nêu nhiều kiến nghị với Tổng cục về việc giải quyết các vướng mắc về vốn đầu tư, trình tự triển khai, hệ thống cơ sở hạ tầng: đường, điện, cấp nước, xử lý môi trường… và mong muốn được Nhà nước quan tâm đầu tư để ngành Du lịch ở địa phương này phát triển. Đoàn cũng đã dành thời gian khảo sát thực địa các khu vực dự kiến xây dựng các khu du lịch tổng hợp.
Nhân dịp này, sáng ngày 27/3/2001, Phó Tổng cục trưởng Nguyễn Phú Đức đã đến dự lễ khởi công xây dựng khu vui chơi giải trí hồ Thủy Tiên. Đây là khu vui chơi tổng hợp với nhiều hạng mục như: Thủy cung, Công viên nước, Vườn địa đàng, Khu thần tiên, Khu tổ chức các trò chơi mạo hiểm… với kinh phí đầu tư 74 tỷ đồng. Dự án này được chia thành 3 giai đoạn, thực hiện từ nay đến năm 2006. Trước mắt, giai đoạn 1 sẽ hoàn thành một số hạng mục chính kịp đưa vào phục vụ Festival Huế tháng 5/2002.
Tổng cục Du lịch triển khai thực hiện nghị định số 03/2001/NĐ-CP của Chính phủ
Ngày 23/3/2001, tại Hà Nội, Tổng cục Du lịch đã tổ chức Hội nghị triển khai Nghị định số 03/2001/ NĐ-CP ngày 11/01/2001 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 28/CP ngày 28/03/1997 của Chính phủ về đổi mới quản lý tiền lương, thu nhập trong các doanh nghiệp Nhà nước.
Về dự Hội nghị có Giám đốc, Kế toán trưởng, Trưởng phòng tổ chức hành chính và chuyên viên làm công tác lao động tiền lương của các doanh nghiệp trực thuộc Tổng cục du lịch.
Sau phần khai mạc và chỉ đạo Hội nghị của Phó Tổng cục trưởng Nguyễn Phú Đức; trong phần giới thiệu Nghị định 03 và các văn bản hướng dẫn của Bộ Lao động Thương binh và xã hội, Phó vụ trưởng Vụ tổ chức các bộ Bùi Văn Đồng đã nhấn mạnh những nội dung bổ sung, sửa đổi nhằm tăng cường, cũng cố bộ phận chuyên trách làm công tác lãnh đạo tiền lương ở các doanh nghiệp. Tiếp đó, Phó vụ trưởng Vụ kế hoạch và đầu tư Ngô Thị Kim Chung nêu một số các quy chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với doanh nghiệp Nhà nước có liên quan đến phần xây dựng và thẩm định kế hoạch lợi nhuận.
Hội nghị đã trao đổi, thảo luận và giải đáp xung quanh các vấn đề liên quan đến xây dựng kế hoạch lợi nhuận, định mức lao động và đơn giá tiền lương năm 2001 của Tổng cục thực hiện quy định của Nhà nước.
Vân Thiêng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Năm 13 (178) 2001.

Những kỹ thuật quản lý đoàn khách

Để quản lý một đoàn khách dù lớn hay nhỏ đòi hỏi ở hướng dẫn viên (HDV) những kỹ năng và kinh nghiệm đặc biệt. Đoàn khách càng đông thì công việc của hướng dẫn viên càng khó khăn hơn bởi luôn phải đối mặt với nguy cơ không kiểm soát hết được cả đoàn khách. Ví dụ như lạc mất một thành viên nào đó, hay có người khách không nghe được hết lời thuyết minh nên gây mất trật tự… làm cách nào khác để khắc phục được tất cả những rắc rối đó? Dưới đây là một số biện pháp mà các hướng dẫn viên có thể tham khảo và áp dụng.
Đặt ra quy tắc cho cả đoàn ngay từ đầu
Đây có lẽ là kỹ thuật đơn giản và dễ áp dụng nhất. Hướng dẫn viên nên thực hiện biện pháp này ngay từ khi tiếp nhận đoàn. Hướng dẫn viên cần nói rõ cho khách biết tour sẽ diễn ra như thế nào, nhằm giúp cho khách không bị bối rối do không biết mình được và không làm được những gì. Để cùng hiểu biết, hỗ trợ nhau trong suốt chuyến đi, hướng dẫn viên cần chủ động đặt ra các quy tắc như sau.
Quy tắc đầu tiên là biết im lặng. Hướng dẫn viên sẽ nói với đoàn rằng khi hướng dẫn viên đang thuyết minh thì mọi người trong đoàn nên giũ yên lặng để nghe và giải thích rằng điều đó sẽ giúp cho tất cả mọi người nghe và hiểu được lời thuyết minh tốt hơn. Nếu có thể, nên bổ sung thêm, rằng: khi mọi người làm ồn thì hướng dẫn viên sẽ im lặng. Hướng dẫn viên nên cho khách biết là họ có thể đặt câu hỏi nếu chưa hiểu, tất nhiên phải lần lượt từng người, hướng dẫn viên sẽ trả lời từng câu hỏi một. có vậy mọi người trong đoàn mới nghe rõ được từng câu hỏi và từng câu trả lời, và nó cũng giúp hướng dẫn viên nghe được câu hỏi một cách rõ ràng. Hướng dẫn viên du lịch cũng nên đưa cho khách địa chỉ của khách sạn đoàn sẽ nghỉ lại, phòng trường hợp có khách bị lạc. Một yêu cầu cơ bản khác là hướng dẫn viên phải yêu cầu các thành viên trong đoàn nên đi cùng nhau và phải luôn ở bên cạnh hướng dẫn viên. Để làm điều này, hướng dẫn viên nên giải thích với khách hàng rằng điều đó sẽ đảm bảo cho hành trình được xuyên suốt và không ai bị lạc hay bị bỏ lại đằng sau.
Nói chung nếu những quy tắc trên được đưa ra càng sớm, càng rõ ràng cụ thể bao nhiêu, càng dễ dàng hơn cho hướng dẫn viên trong việc quản lý một đoàn khách, đặc biệt là một đoàn đông. Tuy nhiên, những quy tắc trên có thể chưa đủ để đảm bảo rằng nó thực sự thích hợp trong mọi lúc cũng như rằng sẽ không có rắc rối gì xảy ra.
Tăng mối liên kết của cả đoàn
Có hai yếu tố để tăng mối liên kết cả đoàn với nhau. Đó là nội dung và độ truyền cảm của lời thuyết minh.
Nội dung của lời thuyết minh hay cụ thể hơn các thông tin được sử dụng càng cập nhật và đầy đủ bao nhiêu thì càng hấp dẫn, càng khiến cho du khách lắng nghe và ở gần hướng dẫn viên có thể lấy từ báo chí, đài, ti vi, cũng có thể lấy từ các chuyên gia du lịch, thậm chí từ chính các khách du lịch. Nếu hướng dẫn viên chỉ miêu tả điểm tham quan thì chưa đủ, mà còn phải chọn lọc những chi tiết, giai thoại đã có trong vốn kiến thức sâu rộng của mình để kể cho khách nghe. Có như vậy mới có thể hấp dẫn được khách.
Không chỉ chú ý đến nội dung của lời thuyết minh, hướng dẫn viên còn phải biết làm cho câu nói của mình truyền cảm, dễ nghe, dễ hiểu. Nên nhớ rằng trong một đoàn đông, các thành viên sẽ rất khó tập trung để có thể hiểu hết được lời hướng dẫn viên du lịch nói. Do suốt cả chặng đường phải đi bên nhau, nên có thể khi đến điểm tham quan họ đã mệt mỏi. Thêm vào đó, sau một thời gian dài bên nhau, mối quan hệ hình thành, mọi người hẳn sẽ thích hỏi han và tán gẫu với nhau. Vậy làm sao để duy trì được sự kiểm soát đây? Hướng dẫn viên phải rất cẩn thận khi duy trì mối cân bằng giữa nhu cầu của cả đoàn với nhu cầu của một vài cá nhân trong đoàn, những người tỏ ra muốn nghỉ ngơi, thư giãn, nói chuyện riêng, hỏi han, pha trò. Cách tốt nhất lúc đó là hướng dẫn viên nên nói to và rõ ràng hơn bởi vì việc nói to, rõ sẽ giúp cho khách nghe và hiểu được dễ hơn. Hướng dẫn viên phải học cách điều khiển âm lượng của mình sao chon gay cả những người khách đứng tận cuối đoàn cũng nghe được những gì mình nói trong khi người đứng ngay bên cạnh không thấy nó quá lớn.
Nếu những người cuối đoànkhông nghe được, họ sẽ bắt đầu quấy rầy những người khác dẫn đến sự rối loạn khi cùng lúc có quá nhiều người nói. Trong trường hợp đang ngồi trên xe thì hướng dẫn viên nên điều chỉnh hệ thống âm thanh sao chomoij người cùng nghe rõ. Tuy nhiên nếu nói to hơn mà khách vẫn không hiểu thì hướng dẫn viên phải nói rõ ràng hơn bằng cách phát âm từ cho chuẩn. Đồng thời phải kết hợp việc sử dụng các kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ và cả phi ngôn ngữ. Khi đó hướng dẫn viên sẽ dễ kiểm soát đoàn hơn và sẽ hạn chế những tình huống khó khăn trên ít xảy ra hơn.
Nguyệt Ánh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(135)2000.

Đông Hồ – hàng mã thì nổi hàng tranh thì chìm – Phần 2

Muốn khôi phục lại làng tranh Đông Hồ thì điều quan trọng nhất là phải dựa vào chính những người dân ở đây bởi vì chỉ có ở mảnh đất này, nghề tranh mới có thể được phục hồi, phát triển và trường tồn. Chính tên tuổi của làng Hồ đã thu hút khách du lịch trong cả nước. Vậy thì tại sao chúng ta không chú ý đến hướng xây dựng Đông Hồ trở thành một làng văn hóa, tiếp tục duy trì nghề truyền thống nhưng bên cạnh mục đích kinh tế là làm tranh để bán, phải làm thế nào để du khách đến làng Hồ cảm nhận được “hồn dân tộc” toát ra từ những tờ tranh, biến quá trình làm tranh trở thành một thứ nghệ thuật độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc. Mặt khác, bên cạnh việc phát triển nghề làm tranh truyền thống, chúng ta cũng phải hết sức giữ gìn và phát huy những nét độc đáo của tranh Đông Hồ như chất liệu tự nhiên, đề tài dân gian….vì đây chính là thế mạnh nổi bật của dòng tranh này. Đồng thời, cũng cần khuyến khích việc thể nghiệm những thể loại mới lạ, phù hợp với cuộc sống hiện đại. Nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam đã sáng tác bức tranh “Tấm áo năm xưa” trên nền giấy dó với màu thiên nhiên, lấy cảm hứng từ bài hát “Tấm áo mẹ vá năm xưa” của nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý. Trong khi đó, nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế lại khắc một bức tranh dân gian trên gỗ. Đó là những sáng tạo rất đáng được trân trọng. Ông Chế còn tỏ ra khá nhanh nhạy với cơ chế thị trường khi áp dụng một cách làm ăn năng động, có hiệu quả. Trong mỗi kỳ Hội chợ Xuân, gia đình ông đều mang tranh tham dự. Đó cũng là một cách để giới thiệu tranh dân gian Đông Hồ với du khách trong và ngoài nước.
Một hướng đi khác để phát triển làng tranh là nhận những đơn đặt hàng của nước ngoài. Gia đình nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam vừa qua đã ký một hợp đồng làm 40.000 từ tranh cho Nhật Bản. Nhờ đó, ông không chỉ tạo công ăn việc làm cho một số lao động mà còn làm giàu được bằng nghề tranh truyền thống.
Và một vấn đề trọng yếu cần quan tâm là, việc khôi phục làng tranh Đông Hồ không được tách rời với việc giữ gìn, bảo tồn và phát triển vùng văn hóa Kinh Bắc vốn nổi tiếng với quan họ Bắc Ninh, với những chùa chiền đền miếu trong đó có Luy Lâu – được coi là quê hương của Phật giáo ở Việt Nam.
Một nghề truyền thống được khôi phục không chỉ tạo ra một lượng công việc rất lớn cho người dân, giúp họ sống được bằng chính nghề nghiệp của mình cũng như tạo ra một nguồn thu không nhỏ từ dịch vụ du lịch khi Đông Hồ thực sự tồn tại như một làng văn hóa, mà còn góp phần lưu giữ một nét đẹp trên gương mặt văn hóa Việt Nam và thế giới, phù hợp với tinh thần Nghị quyết Trung ương V của Đảng về việc một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Thay cho lời kết, xin được trích dẫn lời của ông Geofrey B. Hainsworth (giáo sư khoa Kinh tế, Giám đốc trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á) ghi trong cuốn sổ lưu niệm của nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế: “Không thể có sự phát triển nếu con người không có nguồn gốc. Chúng tôi rất vui mừng khi thấy nguồn gốc văn hóa Việt Nam được bảo tồn một cách tuyệt vời”.
Thanh Phượng – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Đông Hồ – hàng mã thì nổi hàng tranh thì chìm – Phần 1

Nằm bên dòng sông Đuống, làng Hồ không biết có từ bao giờ. Lúc đầu tên làng là Đông Mại, còn có tên khác là làng Mái, vốn nghề vẽ tranh dân gian nên mới có câu ca rằng:
“Hỡi cô thắt lưng bao xanh
Có về làng Mái với anh thì về
Làng Mái có lịch có lề
Có ao tắm mát, có nghề làm tranh”
Cả một vùng rộng lớn gồm 3 xã ven sông Đuống được gọi là vùng Hồ (ngày trước là tổng Hồ), làng lại nằm ở phía Đông nên sau khi thực dân Pháp vào nước ta, làng được đổi tên thành Đông Hồ.
Nói đến Đông Hồ, ai không nghĩ đến nghề làm tranh ? Tranh Đông Hồ nổi tiếng trước hết ở chất liệu tự nhiên, điều mà có lẽ khó tìm thấy ở những dòng tranh khác. Đó là giấy dó, là phẩm in được tạo ra từ đá son, lá tre, hoa hiên, lá tràm…., là gỗ thị dùng để khắc bản in. Đặc biệt, những tờ giấy dó trước khi đem in tranh đều được quết lên một lớp vỏ điệp tán mịn hồ với nước tạo thành một màu trắng ngà rất độc đáo, vì thế mới có tên gọi “giấy điệp”. Với những chất liệu ấy, ta sẽ có được một nền tranh mềm mại, màu sắc sống động, hình ảnh tươi vui, phản ánh tâm hồn lạc quan, trong sáng của dân gian. Nhưng tranh Đông Hồ còn độc đáo ở đề tài được lấy từ chính đời sống sinh hoạt, sản xuất của nhân dân, xuất phát từ triết lý phồn thực, một triết lý về sự sống và sinh sôi. Đề tài này đã tạo ra cả một dòng tranh dân gian nổi tiếng với những Đám cưới chuột, Thầy đồ cóc, Hứng dừa….Do gần gũi với cuộc sống của nân dân nên tranh Đông Hồ rất được yêu mến. Nó đã trở thành một phần không thể thiếu được trong những gì làm nên bộ mặt văn hóa của dân tộc Việt.
Vậy mà, đến với Đông Hồ hôm nay, chúng tôi không khỏi ngỡ ngàng trước sự thiếu vắng bóng dáng của nghề tranh truyền thống đã một thời làm nên tên tuổi của làng. Cả một làng tranh giờ chỉ còn lại hai nghệ nhân quyết tâm theo đuổi nghề truyền thống: nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế và nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam. Thế mà trước năm 1945, nghề tranh vẫn là phương kế sinh nhai chủ yếu, là cái tạo nên nét riêng, không thể trộn lẫn vào đâu của Đông Hồ. Sau năm 1945, tranh Đông Hồ mai một dần. Sau cải cách ruộng đất, làng có thêm nghề làm ruộng, nghề tranh chỉ còn được duy trì trong hợp tác xã. Do làm ăn thua lỗ, hợp tác xã bị giải thể, các gia đình trong làng cũng bỏ nghề làm tranh, chuyển sang nghề làm vàng mã, một nghề trước đây chỉ là nghề phụ – ngày càng phát triển và đến bây giờ nó đã chiếm vị trí độc tôn trong làng.
Làm thế nào để khôi phục lại một làng tranh xưa là một câu hỏi không dễ gì giải đáp. Hiện nay có một nghịch lý là: những người khách nước ngoài không quen thuộc với lối sống, với nền văn hóa Việt Nam lại tỏ ra yêu thích tranh Đông Hồ trong khi chính người Việt Nam lại không mấy quan tâm. Đã rất lâu rồi không còn thấy những tờ tranh Đông Hồ trong các gia đình mỗi dịp xuân về, Tết đến. Vậy trở về với bản sắc dân tộc là đâu nếu không phải là từ cái thú chơi tranh rất quen thuộc thuở xa xưa ? Đó là điều người Việt Nam hiện nay cũng như trong tương lai phải lưu ý. Những năm gần đây, du khách nước ngoài và nhiều tổ chức quốc tế như UNESCO rất quan tâm đến tranh Đông Hồ. Nhưng căn bản là phải có sự giúp đỡ của Nhà nước không chỉ trong lĩnh vực đầu tư vốn mà cả trong công tác định hướng thị hiếu thẩm mỹ cho công chúng. Việc này cần có sự trợ giúp đắc lực của các phương tiện truyền thông đại chúng.
Thanh Phượng – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Brunei – đất nước của Sea Games 20

Việc được đăng cai Sea Games lần thứ 20, lại là Sea Games cuối cùng của thế kỷ này, đất nước Brunei coi đây là vinh dự lớn. Từ trước ngày khai mạc (7/8/1999) mọi công việc vốn rất bề bộn của một đại hội thể thao lớn khu vực Đông Nam Á đã được những người dân đảo quốc này hoàn tất với từng chi tiết kỹ lưỡng, chu đáo. Đây cũng là dịp để quốc gia nhỏ bé này chứng tỏ tiềm lực về đời sống kinh tế xã hội cũng như lòng nhiệt tình mến khách, đặc biệt tinh thần đam mê thể thao của mình.
Brunei có diện tích 5.765 km2 nằm ở phía Bắc Inđônêxia, giáp với Malayxia. Dân số 314 ngàn người. Dù là quốc gia nhỏ bé nhưng thu nhập bình quân đầu người ở đây vào hàng cao nhất thế giới (17.500 USD/năm), chủ yếu nhờ vào khai thác dầu mỏ và khí đốt. Theo các tài liệu nghiên cứu khoa học cho biết, Brunei có dấu hiệu là nơi cư ngụ của loài người từ các đây khoảng 40.000 năm. Sau khi lần lượt bị các quốc gia khác thống trị như Nhật, Anh….ngày 1/1/1984, Brunei chính thức tuyên bố độc lập và thuộc khối Liên hiệp Anh, theo chế độ Quân chủ chuyên chế. Quốc vương là cơ quan quyền lực cao nhất.
Vốn là một phần của hòn đảo Kalimanta xinh đẹp, có bề dày lịch sử, Brunei là một quốc gia có nhiều di tích lịch sử, thắng cảnh tuyệt đẹp. Là đất nước giàu có, người dân ở đây có cuộc sống khá sung túc với cơ sở vật chất dồi dào. Họ được hưởng nhiều quyền lợi cả về vật chất, tinh thần như: không phải đóng thuế lợi tức, y tế và giáo dục miễn phí….Thủ đô của Brunei là Bandar Seri Begawan thuộc tỉnh Muara, đây là trung tâm kinh tế thương mại lớn chủ yếu của ngành khai thác và sản xuất dầu mỏ, khí đốt.
Hàng năm Brunei đón lượng khách du lịch quốc tế gấp nhiều lần so với số dân của mình. Nhưng khác với các điểm du lịch ở cùng khu vực, Brunei thực sự chỉ là điểm nghỉ ngơi bình yên của du khách. Ở đây ít có dịch vụ cờ bạc như Ma Cao, Hồng Kông….Hầu như không có tội phạm, trộm cắp, gây rối trật tự…Tình hình chính trị, kinh tế ổn định. Đây chính là một trong những yếu tố hấp dẫn, thu hút khách du lịch quốc tế đến Brunei ngày càng tăng.
Cùng với việc tạo điều kiện ăn nghỉ, luyện tập, thi đấu đầy đủ tiện nghi cho các vận động viên, người dân Brunei đã chuẩn bị tốt cơ sở vật chất để đón và phục vụ hàng chục ngàn cổ động viên từ 9 quốc gia khác theo đoàn thể của mình. Những ngày tổ chức Sea Games 20, Brunei thực sự là ngày hội cuốn hút bè bạn bốn phương và là niềm tự hào của người dân nơi đây.
Tình trạng lừa đảo bằng thẻ thanh toán ở Đức
Hai năm gần đây, số vụ dùng các loại thẻ thanh toán ăn cắp được để lừa đảo khi mua hàng đã gia tăng một cách đáng lo ngại ở thủ đô Berlin, riêng 6 tháng đầu năm 1999 đã có tới 10.000 vụ lừa đảo loại này, gây thiệt hại cho người tiêu dùng hàng triệu Mác Đức.
Cảnh sát Berlin đã có thông báo đến các cửa hàng, cửa hiệu về tình hình trên để các cơ sở mua bán có biện pháp phòng ngừa. Hiện nay, nhiều cơ sở kinh doanh ở Berlin như siêu thị, trạm xăng, cửa hàng bán quần áo và đồ điện tử yêu cầu khách hàng khi dùng thẻ thanh toán mua hàng đều phải xuất trình chứng minh thư để phòng ngừa lừa đảo.
Tuy nhiên bọn lừa đảo đang dùng nhiều thủ đoạn để đối phó với biện pháp kiểm tra giấy tờ tùy thân, một biện pháp được coi là đơn giản và hiệu quả nhất: chúng thường mua hàng hóa với giá trị dưới 400 D-mác là giá trị mà các cơ sở bán hàng ít chú ý kiểm tra chứng minh thư, hoặc mua các loại hàng đang bị ế ẩm.
Nguyễn Chiến – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Đầu năm gặp gỡ những người làm nghệ thuật

Nhân đầu năm mới Tân Tỵ năm 2001. Du lịch đến thăm nhà một số nghệ sĩ. Mỗi người một hoàn cảnh, một số phận, một thách thức trước cuộc sống. Song họ đều có chung sự đam mê quên mình cho nghệ thuật. Du lịch xin trân trọng giới thiệu ý kiến mới nhất của họ về lĩnh vực nghệ thuật mà họ đang theo đuổi
Nghệ sĩ Nguyễn Cường cây cao là vì có cây thấp
Người ta quen gọi Nguyễn Cường là Nhạc sĩ của đất rừng Tây Nguyên. Nghe các ca khúc của anh như “Em sống bên anh trọn đời”, “Còn thương nhau thì về”, “Ly cà phê Ban Mê”, “Đôi mắt Pleiku”, nhiều người cứ ngỡ rằng anh là người chỉ gắn bó với Tây Nguyên. Chỉ gần đúng thôi, bởi nhạc sĩ Nguyễn Cường không phải chỉ có những bản nhạc viết về Tây Nguyên. Nhưng với anh thành công khi viết về Tây nguyên là niềm hạnh phúc lớn “Đời nhạc sĩ thành công thì ít, bất hạnh thì nhiều, nhưng để lại trong lòng khán giả dẫu chỉ là một dư âm cũng là hạnh phúc lắm rồi”. Đã một thời người Hà Nội sống co cụm, thu mình lại, anh đành tạm biệt mảnh đất Thăng Long thân yêu, nơi có Phố Hàng Lược chợ hoa, phố Hàng Đào lụa tơ và những sóng Tây Hồ Khuất xa thật xa, những mái nhà ngói xô bài ca để tìm đến với Tây Nguyên. Chàng trai Hà Nội này mang theo khát vọng chinh phục sự huyền bí, sự kỳ vĩ qua đó đem lại cho thính giả những ca khúc có một không hai về đất rừng Tây Nguyên. Khi những nốt nhạc của anh ngân lên thì sự hoang dã của Tây Nguyên như trở mình động đậy. Rồi từ đó, những ca từ đẹp cũng được thăng hoa trên cái huyền bí là rừng, là đất, là núi, là suối… Để rồi tất cả bừng tỉnh, thổn thức, thậm chí có những cái hồi sinh trở lại cùng ngân nga trong những bản hòa tấu. Và ngày ngày mặt trời say mê gọi núi, tất cả thiên nhiên và con người như cùng nhảy cùng múa trong tiếng chiêng, tiếng cồng, trong điệu rock của Nguyễn Cường. Những nốt nhạc của ngân vang mãi mãi dư âm những khát vọng mà trường ca Đam San ngày nào hướng tới. Để làm được điều đó, anh đã khao khát và thốt lên: “Tình yêu tôi như dòng Pơ – lang dâng tràn, không bao giờ khô cạn, không khi nào tàn phai”. Để rồi con tim như vỡ tan bao lần vì đôi mắt đẹp của Pleiku. Tây Nguyên thật bí hiểm nhưng cũng thật giản dị, khi khát vọng và hạnh phúc nhập vào nhau thì văn hóa trở thành một sự giao thoa. “Cao nguyên huyền thoại, em cao nguyên cỏ dại, một cao nguyên ở trong tôi vừa thật gần vừa thật xa xôi…”. Để có những bản nhạc mà Siu Black, Ymoan, Yzac ngân vang phải trải qua một cuộc lao động nghiêm túc với những bước chân lần mò, khai thác, với một tài năng lần mò, khai thác, với một tài năng đã đủ độ chín. Cũng không ít bản nhạc viết xong rồi lại vứt đi, cũng không ít những bản nhạc vẫn tồn tại mà chính tác giả của nó không biết nó được viết từ bao giờ, nhưng như Nguyễn Cường đã tâm sự: “Trong một khu rừng có cây thấp thì mới có cây cao. Để cây cao trội lên thì phải có một cái nền là cây thấp. Siu Black, Ymoan, Yzac những đại diện đã bộc lộ được cái thần của văn hóa Tây Nguyên từ ca khúc Nguyễn Cường. Những lời ca của họ là những khát vọng vươn dậy và những nốt nhạc của Nguyễn Cường là một sự chinh phục thực sự.
Kim Hoàng Anh -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Một trường đua ngựa mới ở Việt Nam

Đua ngựa là một hoạt động dường như mới mẻ nhưng thực ra đã xuất hiện ở Việt Nam trong thời kỳ Pháp thuộc. Sân vận động Quần Ngựa hiện nay vẫn còn giữ nhiều dấu vết của trường đua ngựa từ thời đó. Nhằm khôi phục và đưa hoạt động này vào trào lưu hiện đại, mới đây Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ký giấy phép đầu tư số 2109/GP ngày 15/1/1999 cho Tập đoàn Đua ngựa Pháp liên doanh cùng với Công ty Sản xuất Dịch vụ Thể thao và Du lịch thuộc Sở Thể dục Thể Hà Nội thực hiện dự án xây dựng trường đua ngựa ở Thanh Trì, Hà Nội. Dự kiến trường đua ngựa này sẽ được khởi công vào quý 3/2000 và khai trương vào năm 2003 là năm Chính phủ Việt Nam lần đầu tiên đăng cai tổ chức Seagame tại Việt Nam.
Theo dự án, tổng số vốn đầu tư là 57 triệu USD, phía Việt Nam đóng góp 30%, quy hoạch dự án gồm có 2 khu: Một khu đua ngựa rộng 44 ha và khu vui chơi giải trí rộng gần 8ha. Trong khu vui chơi giải trí cũng được chia làm làm hai phần riêng biệt: khu dành riêng cho khách VIP (là những người có thẻ hội viên Câu lạc bộ đua ngựa) và khu công cộng gồm có công viên nước và công viên xanh giống như Bách Thảo nhưng có những đường đi mà khách có thể cưỡi ngựa dạo trên đó.
Khu đua ngựa có 3 đường đua: đường chính trên thảm cỏ, đường vòng trong dành cho giám sát viên đi ô tô, và đường vòng 3 dành để huấn luyện ngựa. Ngoài ra còn có khu nuôi và chăm sóc ngựa, khu huấn luyện người và ngựa, khu cơ quan văn phòng dành cho cán bộ công nhân viên hành chính, khu đường thẳng huấn luyện ngựa và Trung tâm xử lý thông tin. Dự kiến khách mua vé chính sẽ là những người nước ngoài đang công tác ở Việt Nam và ở các nước để họ chơi đua ngựa hoặc đánh cá cược.
Theo ông Hoàng Thế Vinh, giám đốc Công ty Sản xuất Dịch vụ Thể thao và Du lịch cho biết, nếu dự án được triển khai và thành công thì nó sẽ đóng góp một phần rất quan trọng vào ngân quỹ quốc gia. Số tiền bán vé sẽ được chia cho các vé trúng thưởng, cho ngân quỹ, Sở Thuế và các công ty tổ chức đua ngựa.
Điều quan trọng nữa là dự án này sẽ tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động ở nông thôn cũng như thành thị với những nghề: trồng ngô, trồng lúa mạch, trồng cỏ đặc biệt làm thức ăn cho ngựa, nghề nài ngựa, nghề chăm sóc ngựa (mỗi một con ngựa cần một người chăm sóc riêng), nghề huấn luyện ngựa, nghề nhân giống ngựa, nghề thú y. Ngoài ra còn cần một lực lượng lớn lao chuyên phụ trách những công việc trong tòa soạn báo đua ngựa riêng của công ty liên doanh, Trung tâm xử lý thông tin, Hệ thống truyền hình cáp, các trạm bán vé có bán thức ăn nhanh, (mỗi trạm 5 nhân viên, riêng Hà Nội có 500 – 1000 trạm). Nói đến vai trò của khu đua ngựa này, người ta không thể phủ nhận được đóng góp cả nó trong việc tạo ra một môi trường thoáng khí ở giữa đô thị, giữ lại trong các vùng nông thôn một hoạt động kinh tế phồn thịnh, tạo ra một môn chơi giải trí thích hợp cho mọi giới. Đua ngựa còn tác động mạnh mẽ đến các lĩnh vực: du lịch, thể thao, vận tải, tiêu công nghệ, dịch vụ….Khu trường đua và khu giải trí còn có thể dùng làm nơi tổ chức các môn giải trí, các cuộc đua xe hai bánh và bốn bánh, các buổi hòa tấu hay trình diễn văn nghệ ngoài trời, các cuộc hội thảo, hội nghị, và hội trợ triển lãm….
Tham gia đồng thời là nhà thiết kế cho dự án này là Tập đoàn Đua ngựa Pháp gồm 260 công ty. Hàng năm, tập đoàn này tổ chức hơn 16.000 cuộc đua trên toàn lãnh thổ Pháp. Tập đoàn được thành lập với mục đích chính là cung cấp phương tiện tài chính dồi dào và lâu dài cho các công ty hội viên để hoạch định chương trình chăn nuôi và tổ chức các cuộc đua ngựa. Từ năm 1986, tập đoàn bắt đầu bành trướng tầm hoạt động mang kỹ thuật hiện đại cùng kinh nghiệm phong phú đến hợp tác với các đối tác nước ngoài trong việc tổ chức cuộc chơi đua ngựa hay kết quả của các cuộc đua tại Pháp được truyền trực tiếp qua vệ tinh. Sự hợp tác này đi từ khảo sát thị trường đến việc bàn giao cả một hệ thống tổ chức đua ngụa: thành lập tổ bán vé, đưa vào thực hành các thủ tục ghi nhận, xử lý số vé bán và số vé trúng, tuyển mộ và đào tạo các nhân viên và chuyên viên, hỗ trợ đắc lực cho đối tác lúc ban đầu.
Đua ngựa ở Pháp được tổ chức từ đầu thế kỷ 19. Sau hơn 150 năm kinh nghiệm, Pháp hiện nay được xếp vào hạng các quốc gia lớn nhất trên thế giới về tổ chức đua và chăn nuôi ngựa. Do số lượng ngựa nuôi rất nhiều và đủ loại, phong phú, do danh tiếng của các cuộc đua ngựa và do chất lượng của các cơ sở cùng thiết bị trường đua, cuộc đua ngựa tổ chức tại Pháp rất được khách trong nước và trên thế giới ưa chuộng và thích thú theo dõi.
Hy vọng liên doanh dự án đua ngựa Pháp-Việt này sẽ đem lại cho Hà Nội một điểm du lịch giải trí hấp dẫn mới trong niên kỷ mới.
Bình Ly – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999